Sign up

CHÀO MỪNG THÀNH LẬP THỊ XÃ AN NHƠN

langhe | 31 December, 2011 23:28

CHÀO MỪNG THÀNH LẬP THỊ XÃ AN NHƠN

Ngày 01/01/2012 quê tôi huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định được thành lập thành thị xã An Nhơn.

Vì thế tôi lập topic này xin giới thiệu cùng cộng đồng Vnweblogs.com về quê hương tôi: Một vùng mà khi xưa từng là kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành, từng là kinh đô thành Hoàng Đế của triều đại Tây Sơn, từng là một thời là thủ phủ của tỉnh Bình Đinh.

Quê hương tôi có di tích lịch sử cấp Quốc Gia như Thành Hoàng Đế, tháp Cánh Tiên, tháp Phú Lốc, chùa Thập Tháp, di tích Thành Cha, di tích Phủ thành Qui Nhơn....

Để các bạn tường tận tôi xin sơ lược về lịch sử đất An Nhơn như sau:

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN THỊ XÃ AN NHƠN

1. Giai đoạn cổ đại:

Từ kết quả nghiên cứu khảo cổ học của Viện khảo cổ học và theo Đại Nam nhất thống chí, Bình Định nói chung và An Nhơn nói riêng thuộc đất Việt Thường Thị được hình thành sớm, tương đương với thời Tam Hoàng, Ngũ Đế của Trung Hoa. Vào đời Tần, đất An Nhơn thuộc Tượng quận, đời Hán đặt huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, đời Tuỳ đổi thành quận Lâm Ấp. Năm 803, An Nhơn là đất của hai thành Chà Bàn và Thị Nại thuộc nước Chiêm Thành.

Năm 938 đến năm 1470, nơi đây là vùng Kinh đô của Vương quốc ChămPa, có thành Đồ Bàn tồn tại 5 thế kỷ, từ thế kỷ XI đến XV. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tháng 4 chiếm thành Đồ Bàn, tháng 7 lập phủ Hoài Nhơn lệ vào Thừa tuyên Quảng Nam. Phủ Hoài Nhơn khi đó có ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. An Nhơn thuộc huyện Tuy Viễn.

2. Giai đoạn phong kiến:

Năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn. Phủ thành Quy Nhơn đóng tại thôn Châu Thành, phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn ngày nay.

Năm 1778, sau khi giải phóng các vùng đất từ Quản Nam đến Ninh Thuận, nhà Tây Sơn định đô ở An Nhơn, cải tạo và mở rộng thành Đồ Bàn, xây dựng thành Hoàng Đế. An Nhơn trở thành trung tâm chính trị của nhà Tây Sơn khi vua Thái Đức- Nguyễn Nhạc xây dựng thành Hoàng Đế.

Năm 1789, Nguyễn Ánh chiếm thành Hoàng Đế, đổi tên thành là Bình Định. Vua Gia Long lấy thành Bình Định làm trị sở của dinh Bình Định. Năm 1832, vua Minh Mạng lập phủ An Nhơn gồm các huyện Tuy Phước và Tuy Viễn, phủ lỵ An Nhơn đặt tại Hoà Cư, Nhơn Hưng, An Nhơn, đến năm 1852 phủ lỵ dời về An Thái - Nhơn Phúc.

Qua nhiều lần điều chỉnh địa giới và đơn vị hành chính, vào năm 1865, phủ An Nhơn có 4 tổng: Mỹ Đức(19 làng), An Ngãi(26 làng), Nhơn Nghĩa(28 làng), Háo Đức(35 làng). Năm 1939, phủ An Nhơn lập thêm 2 tổng mới, tách tổng Nhơn Nghĩa thành Nhơn Nghĩa Thượng và Nhơn Nghĩa Hạ, tách tổng Háo Đức thành Háo Đức Thượng và Háo Đức Hạ, phủ lỵ An Nhơn di chuyển về phường Bình Định ngày nay.

Trong suốt giai đoạn phong kiến, đất An Nhơn là nơi chứng kiến, ghi dấu ấn sâu sắc của nhiều sự kiện lịch sử, văn hoá lớn của đất nước nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng.

3. Giai đoạn dưới chế độ thực dân Pháp và trước năm 1975:

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phủ An Nhơn đổi tên là phủ Nguyễn Trọng Trì, đến tháng 02 năm 1946, đổi phủ thành huyện, bỏ cấp tổng, sáp nhập 108 làng thành 31 xã. Đến tháng 4 năm 1947, huyện An Nhơn được sắp xếp lại thành 12 xã. Năm 1950, tách một phần phía Đông Bắc xã Nhơn Hậu thành lập thêm một đơn vị hành chính là xã Đập Đá.

Sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi huyện An Nhơn thành quận An Nhơn có 13 đơn vị hành chính gồm các xã: Đập Đá, Nhơn An, Nhơn Hạnh, Nhơn Phong, Nhơn Hậu, Nhơn Hoà, Nhơn Hưng, Nhơn Khánh, Nhơn Phúc, Nhơn Lộc, Nhơn Mỹ, Nhơn Thành, Nhơn Thọ.

4. Giai đoạn từ 1975 đến nay:

Sau năm 1975, tỉnh Nghĩa Bình được thành lập, quận An Nhơn được đổi thành huyện An Nhơn có 13 xã. Ngày 24/3/1979, Chính phủ có Quyết định số 127-CP thành lập thị trấn Bình Định trên cơ sở tách một phần diện tích xã Nhơn Hưng. Ngày 19/02/1986, Hội đồng Bộ trưởng( này là Chính phủ) có quyết định số 15-HĐBT thành lập xã Nhơn Tân trên cơ sở sáp nhập một phần diện tích của xã Nhơn Thọ và một phần diện tích của xã Nhơn Lộc. Ngày 26/12/1997, Chính phủ có Nghị định số 118/1997/NĐ-CP thành lập thị trấn Đập Đá trên cơ sở xã Đập Đá. Ngày 28/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 101/NQ-CP thành lập thị xã An Nhơn và thành lập 5 phường thuộc thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định với tổng diện tích tự nhiên 24.264,36ha, 5 phường thuộc thị xã An Nhơn gồm: Bình Định, Nhơn Hưng, Đập Đá, Nhơn Thành, Nhơn Hoà. Hiện nay, thị xã An Nhơn có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường nêu trên và 10 xã: Nhơn An, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh, Nhơn Hậu, Nhơn Mỹ, Nhơn Khánh, Nhơn Phúc, Nhơn Lộc, Nhơn Tân, Nhơn Thọ.

Qua các thời kỳ lịch sử, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số thị xã An Nhơn ngày càng đông, mật độ dân cư ngày càng cao. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, An Nhơn chỉ có hơn 70.000 dân; năm 1970, có 117.628 dân; năm 1975, có 133.300 dân, mật độ dân số 611 người/km2. Sau hơn 35 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, thị xã An Nhơn có tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số hiện nay 178.724 người.

VÀI HÌNH ẢNH CHUẨN NGÀY 31/12/2011 TRƯỚC NGÀY AN NHƠN CHÍNH THỨC LÀ THỊ XÃ AN NHƠN 01/01/2012

# 01 Trên trục quốc lộ 1A từ Sài gòn trở ra đến ngã ba cầu Bà Gi sẽ gặp tấm bảng Thị xã An Nhơn kính chào quí khách...:

alt



# 02 Cũng từ cầu Bà Gi nhìn về hướng đông các bạn sẽ thấy cụm tháp Bánh Ít trên núi cao:

alt



# 03 Tấm bảng này đang hoàn thiện để ngày mai 01/01/2012 là ngày An Nhơn chính thức là thị xã:

alt



# 04 Đi ra khoảng hơn 1 km các bạn sẽ gặp một rừng cờ đủ màu sắt trên cầu Huỳnh Kim:

alt



# 05 Và khi qua khỏi cầu Tân An gặp ngã ba với bồn hoa chào mừng lên thị xã:

alt



# 06 Sự vui mừng của các em nhỏ khi quê nhà lên thị xã:

alt



# 07 Nếu các bạn đi từ Hà Nội vào bằng đường quốc lộ 1 A khi đi hết địa phận huyện Phù Cát đến Gò Găng các bạn cũng gặp bảng Thị xã An Nhơn chào mừng quí khách:

alt



# 08 Trên trục quốc lộ 19, các bạn đi từ Pleiku xuống qua khỏi địa phận huyện Tây Sơn sẽ gặp bảng thị xã An Nhơn ( xa xa là trạm thu phí đường bộ):

alt



# 09 Khi vừa qua khỏi trạm thu phí Nhơn Tân các bạn nhìn về tay phải sẽ thấy đền thờ Võ Duy Dương, một vị anh hùng dân tộc có biệt danh là Thiên Hộ Dương lừng lẩy vùng sông nước Đồng Tháp Mười trong thời kỳ chống thực dân Pháp ( nơi thờ tự là dấu vết quê nhà thời ấu thơ của anh hùng Thiên Hộ Dương):

alt



# 010 Khắp toàn thị xã An Nhơn đều treo băng rôn chào mừng:

alt



# 011 Cửa ngõ đường hàng không sân bay Phù Cát, nếu các bạn đi từ Sài gòn hay Hà Nội đến Bình Định phài qua sân bay Phù Cát. Tiếng là sân bay Phù Cát nhưng khi ra khỏi cửa cảng hàng không Phù cát là các bạn đang đi vào lòng thị xã An Nhơn.
Nhưng có lẻ vì thời gian chuẩn bị ngắn nên tấm bảng thị xã An Nhơn chào mừng quí khách chưa được xây dựng! Thay vào đó là băng rôn chào mừng:

alt



Ngày mai 01/01/2012 tôi tham dự lễ chào mừng chính thức An Nhơn là thị xã sẽ đưa những hình ảnh lễ hội vui mừng để các bạn xem.

Đồng thời sau đó trong topic này tôi sẽ lần lược post các hình ảnh về phong cảnh di tích, làng nghề.... v ... v.... về vùng đất quê tôi, mong một ngày nào đó các bạn sẽ đến thăm viếng du lịch thị xã An Nhơn quê hương của tôi!

Trân trọng cảm ơn các bạn đã xem.

(còn tiếp)

Lùm xùm tại một lớp đào tạo nghề

langhe | 06 June, 2011 05:31

 Theo báo Bình Định điện tử:     http://www.baobinhdinh.com.vn/thudi-tinlai/2011/6/111040/

Lùm xùm tại một lớp đào tạo nghề
20:38', 5/6/ 2011 (GMT+7)

Dù lớp đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí do Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Ngọc Lan thực hiện tại thôn Bằng Châu đã kết thúc cách đây hơn 1 năm nhưng những lùm xùm xung quanh lớp đào tạo này đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Dư luận địa phương mong muốn các cơ quan chức năng kiểm tra và sớm có kết luận chính thức về vấn đề này.

alt 

Danh sách 100 học viên nhận giấy chứng nhận hoàn thành khóa học nghề đúc, chạm khảm tam khí tại thôn Bằng Châu do DNTN Ngọc Lan thực hiện

* 10 hay 100 học viên theo học?

Năm 2009, DNTN Ngọc Lan, thôn Bằng Châu, thị trấn Đập Đá (An Nhơn) được Quỹ khuyến công quốc gia hỗ trợ 90 triệu đồng và UBND huyện An Nhơn hỗ trợ 20 triệu đồng để thực hiện đề án đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí. Lớp đào tạo nghề được triển khai tại thôn Bằng Châu trong thời gian 3 tháng; đào tạo nghề cho 100 học viên, đa số là lao động tại địa phương.

Đến nay, dù đề án đã kết thúc hơn 1 năm, nhưng dư luận địa phương vẫn xôn xao về những hạn chế của lớp đào tạo này. Theo một số người phản ảnh, lễ khai giảng (ngày 24.9.2009) được DNTN Ngọc Lan tổ chức rất hoành tráng nhưng sau đó không thể tiến hành dạy vì chưa… có thầy. Mãi một thời gian sau, DN mới thuê được thầy ở tỉnh Thái Bình vào hướng dẫn. Tuy nhiên, thay vì học nghề chạm khảm tam khí, các học viên chỉ được thầy truyền cho kỹ thuật gò chạm đồng. Đặc biệt hơn, số học viên theo học chỉ đếm trên đầu ngón tay (không tới 10 học viên).

Trong khi đó, ông Nguyễn Đức Ngọc - thành viên của DNTN Ngọc Lan, khẳng định: “Lớp đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí thực hiện đúng như kế hoạch của đề án. Thông tin lớp học chỉ đào tạo không tới 10 học viên là thiếu cơ sở. Nghề gò chạm đồng và chạm khảm tam khí thực chất chỉ là một”. Cũng theo ông Ngọc, thời gian đầu, việc triển khai đề án gặp một số khó khăn như giáo viên vào trễ; số lượng học viên theo học không đều. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã kịp thời phối hợp với Phòng Kinh tế huyện An Nhơn, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Trung tâm KC&TVPTCN) tỉnh tìm cách tháo gỡ. Qua 2 đợt tổ chức, lớp có 105 học viên theo học và khi kết thúc, 100 người đã được cấp giấy chứng nhận nghề. Hiện nay, do đầu ra của các sản phẩm chạm khảm tam khí còn khó khăn nên một số học viên phải quay lại với nghề đúc truyền thống tại địa phương.

* Cần sớm có kết luận

Dư luận địa phương cho rằng, DNTN Ngọc Lan đã “phù phép” để có được danh sách số lượng học viên đúng như đề án. Trên thực tế, số học viên thực học chỉ vài ba người và đề án đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí không đạt được kết quả như mong muốn.

Được biết, ngày 14.12.2009, đại diện Trung tâm KC&TVPTCN tỉnh, Phòng Kinh tế huyện An Nhơn và DNTN Ngọc Lan đã có buổi làm việc để giải quyết một số vướng mắc tại lớp đào tạo nghề. Theo đó, lớp chưa thực hiện được những tiêu chí trong đề án đề ra như chưa đủ số lượng học viên, giáo viên dạy nghề vào chậm. Tuy nhiên, Quỹ khuyến công quốc gia phải quyết toán kinh phí hỗ trợ trong tháng 12.2009 nên các đơn vị liên quan tạm thời lập thủ tục để thanh, quyết toán trước ngày 15.12.2009 (?!). DNTN Ngọc Lan tiếp tục triển khai lớp đào tạo nghề đến hết ngày 30.1.2010; đồng thời, tích cực vận động học viên tham gia để đảm bảo số lượng… Ngoài buổi làm việc này, các đơn vị có liên quan còn tổ chức một số cuộc họp khác cũng với mục đích giải quyết những vướng mắc tại lớp đào tạo nghề.

Theo đánh giá của Phòng Kinh tế huyện An Nhơn, những năm qua, nhiều lớp đào tạo nghề ở nông thôn được mở ra để phát triển các làng nghề cũ và du nhập nghề mới, nhưng hiệu quả chưa cao. Nhiều lớp học được tổ chức còn mang tính đối phó và lớp đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí này cũng nằm trong tình trạng trên.

Ông Nguyễn Bá Tài, Giám đốc Trung tâm KC&TVPTCN tỉnh, cho biết, đề án lớp đào tạo nghề đúc, chạm khảm tam khí do DNTN Ngọc Lan triển khai được thực hiện theo Quyết định số 2085/QĐ - BCT ngày 29.4.2009. Khoản kinh phí của Quỹ khuyến công quốc gia được hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp; doanh nghiệp chịu trách nhiệm thuê giáo viên, mua các phương tiện, nguyên vật liệu phục vụ dạy và học. “Đầu tháng 6.2011, các cơ quan chức năng sẽ làm việc để xem xét và có kết luận cụ thể về vấn đề này”- ông Tài cho biết.

Vậy, hiệu quả triển khai đề án này như thế nào? Dư luận cần câu trả lời chính xác nhất  từ các cơ quan chức năng với mong muốn việc triển khai các hoạt động khuyến công thực sự góp phần hỗ trợ quá trình phát triển của các làng nghề truyền thống.

  • Văn Lực - Xuân Thức

Làng Nghề ơi Làng Nghề!

langhe | 02 June, 2011 22:32

Bớ làng nghề ơi - làng nghề ơi!

 

alt

 

 

 

 

alt

 

Cái tâm huyết về cái nghề đồ đồng "chạm khảm tam khí" để đem nghề mới về dân làng nghề đúc đồng nghèo của quê hương đã bị "lợi dụng"

 

Buồn lắm thay!

LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM VÂN SƠN, XÃ NHƠN HẬU, HUYỆN AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

langhe | 27 April, 2011 20:45

       Nhân dịp VTV Phú Yên về làm phóng sự nghề gốm cổ truyền ở làng nghề truyền thống An Nhơn, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Tôi đã hướng dẫn các phóng viên đến làng nghề để tác nghiệp.

        Xin giới thiệu vài hình ảnh về cái nghề cổ truyền này, hoàn toàn làm thủ công, không dùng điện từ khâu tạo hình sản phẩm đến đốt lò, đúng theo cái nghĩa của cái nghề truyền thống cổ truyền. Sản phẩm gốm làm ra cũng là các sản phẩm cổ truyền mà dân Việt ta đã dùng hàng ngàn năm nay, thị phần của sản phẩm này đa số là cho các hộ nghèo ở các tỉnh duyên hải Trung Bộ và Cao Nguyên. Thu nhập của người thợ làng nghề thấp, phần đông là nữ giới lớn tuổi tham gia. Vì cái nghiệp của cha ông, và cũng vì lẩn quẩn loanh quanh với đất sét và gốm nên còn vương vấn với cái nghề "xưa như trái đất" này!

        Nào xin mời xem hình để biết thêm cái nhọc nhằn của cái nghề gốm cổ truyền nghèo khó này: 

        Đầu tiên là tạo hình sản phẩm bằng bàn xoay bằng gỗ cổ truyền:

 

alt

Ảnh 1: Bàn xoay tạo hình sản phẩm

 

alt

Ảnh 2: Chân vừa xoay bàn, tay nhào đất; còn người kia dựng hình sản phẩm

 

alt

Ảnh 3: Thân ấm sau khi xoay tạo hình

 

alt

Ảnh 4: Hong phơi sản phẩm cho khô

 

alt

Ảnh 5: Chuốt nạo làm tinh, hoàn chỉnh sản phẩm

 

alt

Ảnh 6: Tạo hình lò than củi bằng tay - thủ công

 

alt

Ảnh 7: Làm nguội sản phẩm lò than

 

alt

Ảnh 8: Hong phơi cho khô

 

alt

Ảnh 9: Hong phơi cho khô ấm đất

 

alt

Ảnh 10: Hong khô là than-củi

 

       Sau khi sản phẩm đã hong thật khô thì chất xếp vào lò nung, lò nung cũng là kiểu lò cổ truyền:

 

alt

Ảnh 11: Vào lò

 

alt

Ảnh 12: Vào lò

 

alt

Ảnh 13: Vào lò

 

alt

Ảnh 14: Vào lò

 

alt

Ảnh 15: Vào lò

 

alt

Ảnh 16: Nụ cười chất phát của người thợ gốm

 

       Sau khi chất sản phẩm gốm có xen kẻ chất đốt là than cám vào lò thì đến công đoạn trét lò:

 

alt

Ảnh 17: Làm đất trét lò

 

alt

Ảnh 18: Sắp các tấm gốm bao lò

 

alt

Ảnh 19: Trét lò cho kín

 

alt

Ảnh 20: Trét lò

 

      Sau khi trét lò theo kỷ thuật gia truyền thì ngày hôm sau khô lò, sau đó dùng chất đốt là bổi hay củi để đốt (mua từ các gỗ bìa thải từ các công ty chế biến gỗ- Bình Định tập trung nhiều công ty chế biết gỗ nhất nước), đốt theo kinh nghiệm gia truyền cho sản phẩm chín, sau đó vài ngày là dở lò lấy sản phẩm gốm.

       Sau đây là vài hình ảnh tác nghiệp của phóng viên VTV Phú Yên:

 

alt

Ảnh 21: Cameraman tác nghiệp ghi hình

 

alt

Ảnh 22: Nữ phóng viên duyên dáng nói về nghề gốm Vân Sơn

 

alt

Ảnh 23: Phỏng vấn để biết nổi nhọc nhằn nghề gốm truyền thống

 

        Và nụ cười vẫn tươi và hồn nhiên ngây thơ của tuổi học trò quê tôi:

 

alt

Ảnh 24: Nụ cười tuổi thơ (phía sau các em trèo lên con voi đá cổ của thành Hoàng Đế)

 

alt

Ảnh 25: Nụ cười tương lai dựng xây đất nước.

 

------------------------------

 


 



SINH VIÊN HÀN QUỐC THĂM QUAN LÀNG NGHỀ

langhe | 18 January, 2011 22:10

 

SINH VIÊN

KHOA VIỆT NAM  HỌC

& TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

của Trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn

thuộc Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

về thực tập tại các làng nghề truyền thống của huyện An Nhơn.


          Vào ngày 13/01/2011 một đoàn sinh viên gồm 39 người Hàn Quốc được 10 Giáo sư và giảng viên khoa Việt Nam Học & tiếng Việt cho người nước ngoài, trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố hồ Chi Minh đã đáp máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh về huyện An Nhơn để thăm quan thực tập tại các làng nghề huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

          Làng nghề ở một huyện miền duyên hải trung trung bộ xa xôi như các làng nghề truyền thống ở huyện An nhơn mà được một trường đại học lớn như trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố hồ Chi Minh quan tâm đưa sinh viên người nước ngoài về thăm quan và thực tập thì còn gì quí bằng.

          Đây là dịp làng nghề quảng bá các nghề truyền thống các thầy cô giáo ở thành phố Hồ Chí Minh và các em sinh viên Hàn Quốc tường tận tìm hiểu.

          Đoàn chia ra làm 10 tổ nhỏ, mỗi tổ thực tập viết thu hoạch một làng nghề, nên phải phân các tổ về các xã và nhờ chính quyền thôn-xã-hội làng nghề hướng dẫn cho các tổ làm quen các cơ sở sản xuất.

          Riêng langhe hướng dẫn một tổ gồm 1 thầy + 3 sinh viên nghiên cứu đề tài " Nghề sản xuất bánh tráng truyền thống tại Bình Định".

          Danh sách tổ gồm:

•1-    Giảng viên:           Thạc sĩ Đào Mục Đích.

•2-    Sinh viên:             Cho Hyung Min

•3-    Sinh viên:             Yoon Da Rae

•4-    Sinh viên:             Shin Ji Hee

Địa điểm làng nghề truyền thống đến thực tập:

•-         Làng nghề truyền thống bún khô-bánh tráng An Thái, xã nhơn Phúc.

•-         Làng nghề truyền thống bánh tráng Trường Cửu, xã Nhơn Lộc.

Sơ lược về hai làng nghề trên:

•1-    LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG BÚN KHÔ-BÁNH TRÁNG AN THÁI:

Làng nghề truyền thống bún khô-bánh tráng An Thái nằm ở phía bắc thôn An Thái, xã Nhơn Phúc.

         An Thái là thủ phủ của huyện Tuy Viễn xưa, người Minh Hương cư ngụ và kinh doanh sản xuất - thương mại đông đúc. Vị thế địa lý thuận lợi nằm dọc trên hữu ngạn sông Côn, nên ghe bầu từ cửa Thị Nại, cảng nước Mặn, và cảng Gò Bồi lên mua bán tấp nập. Đây là một vùng thị tứ sầm uất, nơi trung tâm mua bán trao đổi hàng hóa từ Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn) xuống và từ các tỉnh khác qua đầm Thị Nại lên. Phía bắc An Thái bên tả ngạn Sông Côn là các làng nghề gốm cổ như làng gốm Cây Me, làng gốm... nên ghe thuyền đoạn sông Côn này đông vui, kẻ trên bến người dưới thuyền mua mua bán bán hàng nông sản, thủy sản và hàng thủ công.

         Thời kỳ người Hoa kiều Minh Hương bỏ nhà Thanh ra đi, họ tụ tập đến các nơi thị tứ của nước ta, họ làm đủ ngành nghề và quần tụ đùm bọc nhau cùng phát triển. Tại An Thái có những họ như Lâm, Diệp, Tạ, Lý, Trần...tham gia sản xuất các ngành nghề nổi tiếng, sản xuất ra các sản phẩm như giấy, bún, cơ kim khí v...v....

Chạy dọc thị tứ An Thái là Sông Côn có bãi cát vàng rộng to, nước sông trong ngần đó là điều kiện rất tốt cho nghề làm bún và bánh tráng phát triển (khi xưa chưa có giếng khơi,  người sản xuất dùng nước sông để làm tinh bột và làm bún, thời đó nước sông sạch không bị ô nhiễm như bây giờ). Các cơ sở sản xuất bún được xây dựng nhiều trên bãi cát, chủ yếu là các láng trại vì chỉ sản xuất mùa khô còn mùa mưa gió thì dỡ cất không sản xuất được. 



   



Bãi cát sông Côn của làng nghề bún khô-bánh tráng An Thái


         Bún khô của làng nghề An Thái hiện nay có các loại như: bún số 8, bún gạo vắt tròn, bún dong (bún củ chuối), bún gạo giả mỳ, bún bột mỳ ta, bánh phở, và đặc biệt là bún đậu xanh Song Thằn.


         Bún Song Thằn là đặc sản độc đáo của làng nghề An Thái, 5 kg đậu xanh hạt được xay và chắc lọc nước nhiều lần cho ra 1,2 kg bột đậu xanh tinh chất trắng tinh, rồi 1,2 kg bột đậu xanh đem nhồi rê làm thành 1 kg bún Song Thằn khô. Chất lượng bún rất ngon, dinh dưỡng cao, nhưng vì thời giá đậu xanh quá cao nên giá bún Song Thằn hiện nay cao ngất ngưỡng: 180.000 đ/1 kg.

   Thời phong kiến, bún Song Thằn được sản xuất có hình dáng khác với hiện nay: sơi bún được người thợ rê thành 2 sợi song song vào nồi nước đang sôi ( nên tên gọi là song thằn là từ hai sợi này), bún chín được vớt ra thành nhóm sợi kéo thẳng dài gần cả mét phơi trên vỉ phên tre, Sợi bún sau khi phơi khô được bó thành bó và đóng thành kiện để các lái buôn đem sang Trung Hoa tiêu thụ.

Đến khoảng năm 40 của thế kỷ 20 thì sợi bún được kéo phơi trên phên tre có lót vải thành vĩ bún hình chữ nhật như hình thức bây giờ. Sau đó số lổ của phểu rê được đục lổ tăng nhiều lên không còn loại hai lổ như phểu hồi xưa, năng xuất rê bún tăng hơn cũ.

Nhưng cách rê bún Song Thằn hiện nay năng suất thấp, cần phải cơ giới hóa máy móc thiết bị công đoạn rê để tăng sản lượng và chất lượng bún.




 
Tổ sinh viên và giảng viên đang tham quan bãi phơi bún - bánh tráng



         Bánh tráng của làng nghề An Thái là bánh tráng mỏng dùng để cuốn, hay dùng làm bánh đa nem (chả ram, chả giò...)

Hiện nay đã có trên 10 máy sản xuất bánh tráng, năng suất bình quân mỗi máy từ 80 kg đến 120 kg / 1 giờ sản xuất, bánh tráng chạy từ máy ra thành dải như dải lụa:

Thị trường tiêu thụ sản phẩm bún khô - bánh tráng của làng nghề An Thái hiện nay là các tỉnh duyên hải miền trung, các tỉnh cao nguyên và một số tỉnh miền nam cũng như thành phố Hồ Chí Minh




 

Bánh tráng đa nem (làm chả ram) sản xuất bằng máy)



Riêng bún Song Thằn được thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tiêu thụ mạnh. Nhiều Việt Kiều về nước đã tìm mua bún Song Thằn để làm quà và sử dụng.

Sau đây là hình ảnh đoàn tham quan thực tập tại làng nghề bún khô-bánh tráng An Thái:





Thăm quan cơ sở sản xuất bún Song Thằn Hưng Đắc

 






Thầy trò ngạc nhiên có loại bún Song Thằn làm từ đậu xanh!

 






Xem bún đang phơi trên bãi cát sông Côn.

 






Kéo bún ra bãi cát.





   



         Phơi bún

 




   



   Thăm quan lò bánh tráng thủ công.

 




   



   Tập tráng bánh tráng

 



   


   


     



   Cô Phương chủ lò bánh tráng thủ công vui vì cái nghề lao động này có đoàn sinh viên hàn Quốc về tìm hiểu.

 




    



      Tổ tham quan đế cơ sở bánh tráng máy hiệu Thanh Thủy 

 




   



   Phơi bánh tráng khắp sân kể cả tận dụng mái nhà!

 



   


   



   Phỏng vấn anh Châu chủ cơ sở bánh tráng máy Thanh Thủy để làm tài liệu viết đề tài thực tập.

 




      



      Sinh viên Hàn Quốc bập bẹ tiếng Việt, hai bên cố gắng...cùng thấu hiểu nhau!

 




      



      Thăm một lò bánh tráng thủ công để tìm hiểu thêm.

 




      



      Tìm hiểu về cách phơi bánh tráng.

--------------------------------------------------

Vì dung lượng của một entry có hạn nên xin xem tiếp entry tiếp theo. Làng Nghề xin cảm ơn!

_____________________________________________________________________________________________________

 

THÚ KHOÁI MÊ GÁI ( MAI GHẾ)

langhe | 12 January, 2011 23:07

 

THÚ KHOÁI MÊ GÁI ( MAI GHẾ)

Trong mấy ngày Tết, nhất là trong đêm 30 Tết trong lúc chờ đón giao thừa mà ngồi ngắm nghía chậu mai kiểng để trên... ghế thì tuyệt, các bông mai vàng con gái dậy thì chớm bung nụ vàng mừng xuân làm cho lòng ta rạo rực trẻ lại thời xuân.

Mai Háo Đức, hay mai xuân các vùng trồng mai khác đã thịnh hành loại mai có chiều cao trên dưới 1 mét trồng trong chậu kiểng, thân cây được chăm bón uốn lượn dáng thế, giống hoa được chọn loại hoa mai cánh lớn nở chúm không bung ngữa và không hở cánh hoa ( thường chọn giống mai giảo Thủ Đức). Những chậu mai kiểng này được chưng trong phòng khách, đặt nơi trong trọng dễ chiêm ngưỡng nhất. Những ai có điều kiện thì sắm cái đôn sứ hay đôn xi măng để kê chậu mai lên ngang tầm nhìn khi ngồi ngắm, người không có điều kiện thì dùng cái ghế đẩu bằng gỗ hay cái ghế nhựa để kê chậu mai vàng. Cái thú chưng chậu mai kiểng trên ghế thịnh hành đến  chục nhà chưng mai thì gần như bảy-tám nhà chưng mai trên ghế, vì thế thành một cái ngôn từ quen thuộc là Mai Ghế nói lái là mê gái he he he....

Có lẻ không thằng đàn ông nào mà không thích... mê gái ( mai-ghế) he he he....

Chủ nhật vừa rồi, ngày 09-01-2011 ( ngày mồng 6 tháng chạp Canh Dần ) Langhe đi dạo chợ xuân hoa kiểng ở bến Bình Đông, quận 8, Sài Gòn bất ngờ gặp các chủ vựa mai ở Bến Tre chở mai bằng ghe lên chưng bán, đặt biệt là người bán mai kiểng đã thông thạo cái tính đặc trưng của quí ông mà chưng mai kiểng trên...ghế nhựa, he he he.... Xin đưa vài hình ảnh chợ mai kiểng bến Bình Đông lên cho quí vị xem nhé:

1- Ghe chở mai kiểng tấp nập cập bến Bình Đông:





Trên bến bày mai kiểng, dưới bến tấp nập ghe chở mai.






Bên kia là đại lộ Đông Tây, Sài Gòn










Đường Bình Đông dọc Bến Bình Đông quận 6 Sài Gòn










Chủ vựa mai kiểng chờ khách thích...mê gái!








Thân cây mai theo phong cách Nam Bộ








Lận đận cho cái nghề chăm sóc cái thú chơi mai kiểng ngày Xuân!

Bôn ba sông nước với nghề kinh doanh mai kiểng


2- Đây những chậu Mai Kiểng được chưng trên ghế, còn gọi là mai ghế - mê gái :





mai
ghế này được chủ vựa kêu giá 10 triệu đồng.





Nhóm mai ghế này chủ vựa cho giá 2,5 triệu đồng/ 1 mê gái.




Xem kỷ cái mê gái này 2,5 triệu cũng được đấy chứ, chơi này còn rẻ hơn mê gái thiệt à nhe! He he he...





À à! Chồng ơi là chồng sao ông thấy mai ghế mà mê gái liền vậy ông!!!





Chà chà! Ngắm kỷ mấy em này cũng muốn phê rồi, mình là nữ nhi mà cũng thích huống chi là mất chả hi hi hi....





Phải xông vào kiếm một ẻm cùng ổng mới được!!! Hu hu hu mai ghế - mê gái ơi!  mai ghế!!!



   3- Dáng thế mai theo thị hiếu:

- Người miền nam theo thị hiếu cũ thì cây mai phải xum xê, nhiều cành, bong nhiều và phải nở rực rỡ vào ngày mồng một Tết:

                                         


Cây mai trồng trong chậu đất trồng là tro trấu và mụn dừa nên mềm phải dùng dây nhôm để giữ thân không ngả!






Cái gu đơn giản của người thu nhập thấp chọn mai kiểng rẻ tiền?!


- Người miền Trung và miền Bắc thì thích cây mai có gốc rễ bự, thân uốn lượn theo dáng thế, chi nhánh xòe đều và vun hình tháp từ gốc lên ngọn:




Mai đôn này có giá 5 triệu đồng






Mai đôn này có giá 7 triệu đồng!


- Người giàu sang  để chứng tỏ ta biết chơi thì mua chậu mai kiểng có giá vài trăm triệu đồng đến trên tỷ đồng. Hay bỏ tiền thuê chậu mai tết bự tổ chảng, chỉ chơi trong vòng 7 đến 10 ngày Tết mà thuê có giá lên tới 50 triệu đồng!!!

Người khó khăn thu nhập ba cọc ba đồng để có chậu mai kiểng chơi ba ngày Tết thì bê một chậu mai nhí có giá từ 70 nghìn đồng đến hơn 100 ngàn đồng, he he he... cũng có hoa mai để ngắm xuân vậy, người ta chơi sang chơi ngầu thì kệ người ta, mình nghèo mình chơi vậy thì mặc kệ mình  có gì mà ngượng mà xấu he he he... phải không bớ Cu Vinh!!!



Mai kiểng nhí 1 đến 2 năm tuổi có giá từ 70 nghìn đồng đến trên 100 nghìn đồng.


4- Nhưng vẫn không thiếu cây mai Háo-Đức Bình Định ở bến Bình Đông, quận 6, Sài Gòn:




Chậu mai kiểng Háo Đức-Bình Định được để nơi thoáng soi dáng xuống dòng kênh, chủ vựa cho biết cây mai này được mua có nguồn gốc từ Háo Đức cách nay 3 năm, bày bán với giá 15 triệu đồng. Nhưng cái thế và dáng cây trải qua 3 năm đã lai dáng miền nam không còn cái dáng con gái Bình định he he he.....



Đó là thị trường mai cảnh ở bến Bình Đông, Sài Gòn; còn thị trường Mai Kiểng và Mai Ghế Bình Định ở Háo Đức hiện nay ra sao? Xin xem tiếp entry sau.

--------------------------------------------------

NGHỀ TRỒNG MAI Ở AN NHƠN-BÌNH ĐỊNH

langhe | 06 January, 2011 23:04

 

NGHỀ TRỒNG MAI Ở HUYỆN AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

 

      Mai xuân là loài hoa không thể thiếu trong không khí đón Xuân của người miền Trung và người miền Nam nước Việt, trước Tết Nguyên đán các phiên chợ Bình Định vào các ngày 18-23 đã lát đát có những nhánh mai núi được vặc trụi lá như cành củi được đốt gốc bày bán. Nhưng rộ và nhiều nhất là phiên chơ tết 28 tháng chạp, hai đầu chợ tràn trề mai, những cành mai búp bung nụ chuẩn bị khai hoa đón Xuân về.


      Hoa mai và pháo Tết làm cho lòng ta rộn ràng đón Tết, nay pháo Tết đã đi vào dĩ vãng chỉ còn nghe cái âm thanh đì đụp của những quả bong bóng bị đâm nổ trong những đám cưới! Vì thế mà mọi người mọi nhà đều đổ dồn cho chăm chút chậu mai - cây mai trong thời gian chuẩn bị đón Tết về.




Cúc mai ( hoa nhiều cánh- khác với mai 5 cánh)

 

 


      Nền kinh tế thị trường, phân hóa công việc, và đất chật người đông mà nhu cầu việc chơi mai nhiều cách bùng phát vào dịp chờ đón Xuân về.


      Khi xưa chỉ có thị trường mai: cắt cành, những cây mai cổ thụ được người nông dân cắt cành bán để có tiền trang trải chi phí gia đình đón Tết. Hay những người đi lên rừng lặn lội chặt cành mai rừng, trong đó mai rừng Phan Rang đem ra bán ở phiên chợ Bình Định rất nhiều, mai cành Phan Rang thân trăng trắng chứ không mốc xâm như mai cành rừng Bình Định.


      Khi xưa mai vàng được trồng trước nhà, trong sân, hay lối đi vào nhà. Giống mai thì có mai vàng 5 cánh, bạch mai, mai tứ quý, mai nhật (hoa nhỏ, thân mềm, thấp...), . Trước năm 1975 ở quê tôi thôn Hưng Định - nay là thị trấn Bình Định có bác Mai Ngọc Tri là người đầu tiên bỏ vốn  trồng mai, nhưng cũng chỉ trồng dưới đất sau vườn nhà. Bác Mai Ngọc Tri đã vào tận Sài Gòn - Miền Nam mua cây mai vàng chở nguyên một xe cam-nhông, bác trồng một vườn mai rộng lớn; những người trồng hoa rất kính nể bác Mai Ngọc Tri về hướng đầu tư  kinh doanh mới này!


      Sau 1975, do kinh tế khó khăn nên cây mai được  trồng để chơi không bán; vùng quê tôi chủ yếu trồng hoa cúc, hoa thược dược, hoa vạn thọ... để bán trong các ngày giáp Tết. Khoảng từ năm 1979 đến 1985 có chú Trị, chú Sơn, chú Sáu Toại... trồng mai vàng trong chậu, giống mai chủ yếu là giống mai Hương Kiểm Kính (ở thôn Hòa Nghi, xã  Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Mai "Hương Kiểm Kính" được cụ Hương Kiểm "Kính" trồng ở sân vườn có nụ hoa nhặt, hoa  nở thành chùm dày đặc, cánh mai màu vàng tươi khoảng 12 cánh, và có hương thơm; vì thế mai "Hương Kiểm Kính" trồng trong chậu cho hoa dày và nở màu vàng rực rỡ, chưng trong nhà có hương thơm phảng phất.


      Sau chú Trị, chú Sơn, chú Sáu Toại, có các chú "Bảy Sói", chú Điểm, anh Thái Bá Hiệt và một số người trung niên rộ lên chơi mai kiểng. Thị trấn Bình Định lúc này đã hình thành cái gu chơi mai kiểng và trao đổi giống cùng nhau chơi, các giống mai như bạch mai, mai cà rốt (màu hoa như màu cà rốt), mai xanh (cánh hoa dài hơi xanh)...v..v.... được ghép chung vào một gốc mai tạo nên một cây mai ra nhiều loại hoa rất đẹp ( thường lấy gốc mai tứ quý để ghép). Thời gian này mai vàng chỉ trồng trao đổi nhau chơi là chính, chỉ có số ít kinh doanh mua bán, thế dáng cây mai được hãm nhỏ, thấp, gốc lớn, thân uốn lượn tạo chi nhánh ra hướng quanh thân, cành xòe như bàn tay. Số lượng cành mai được tính theo "sanh-lão-bệnh-tử", "thế chủ" cây mai là đọt trên cao phải nằm trong khoảng "sanh-lão" đếm từ nhánh thấp lên cao.


      Trong lứa tuổi chơi mai cùng thời với  chú "Bảy Sói"... thì ở thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định có chú Đặng Xuân Lang về hưu trồng mai cảnh làm thú tiêu khiển điền viên. nhà chú Đặng Xuân Lang có vườn sân rất rộng được trồng rau xanh bầu bí và vài chục chậu mai kiểng. 




Nhà cổ từ đường của cụ Đặng Xuân Lang và sân mai kiểng hiện nay

( làng nghề mai kiểng Háo Đức, xã Nhơn An)


 

 

Trồng chơi mà ăn thiệt, do trước nhà bác Đặng Xuân Lang có nhánh sông nhỏ chạy ngang, nguồn nước tưới cho vườn mai là nước sông này làm cho cây mai vàng mau lớn phát triển nhanh, lá xanh mượt mà; và đất được trồng là đất phù sa được lấy từ dọc các soi ruộng bên bờ sông Côn chảy qua xã Nhơn An. Đất phù sa màu mỡ, nước sông nhiều dinh dưỡng không phèn,  giống mai tốt cùng với chuyên cần công chăm sóc thường xuyên hằng ngày đã thúc đẩy vườn mai vàng nhà bác Đặng Xuân Lang phát triển, so với vùng đất khác thì chỉ 2 năm sau khi ươn hột mai cây mai kiểng nhà bác đã có thế dáng đẹp hoa nhiều và có thể chưng Tết được.

Bác Đặng Xuân Mai là cán bộ tỉnh về hưu nên nhiều bạn bè người thân ở tỉnh (thành phố Qui Nhơn) đến thăm và mua mai, tiếng lành đồn xa, cứ mỗi độ cuối năm âm lịch khách đến nhà bác Lang mua mai kiểng càng đông, càng nhiều. Khách mua mai đông nhất là mua để biếu ( dịp Tết mà!) nên giá cả chẳng là vấn đề, do đó thu nhập bán mai nhà bác Lang khá lên.

Hai người con của bác là anh Đặng Xuân Hoàng và anh Đặng Xuân Sự kế tục phát triển ươm giống trồng rất nhiều, chăm bón uốn thân tạo dáng rồng lượn ngẩn đầu, các chi nhánh xòe ra chung quanh, và bộ gốc rễ cây mai được đôn lần lên khỏi đất, làm cho cây mai  " nhất gốc, nhì thế, tam thân, tứ hoa..."  rất ư là thời... là thế... hội nhập theo thị hiếu nên rất được người chơi mai kiểng ưa chuộng. Thu nhập khá đã làm cho sân vườn mai kiểng nhà bác Lang- anh Hoàng-anh Sự phát triển, vườn chuối-vườn rau đã nhường chổ đứng cho chậu mai kiểng.

Hàng xóm quanh nhà bác Đặng Xuân Lang thấy trồng mai kiểng có thu nhập khá nên cũng dẹp vườn chuối, dẹp vườn rau để trồng mai kiểng. Từ đó dần dần hình thành phát triển vùng mai kiểng thôn Háo Đức.

LÀNG NGHỀ TRỒNG MAI CẢNH HÁO ĐỨC

Thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định có 429 hộ dân thì số hộ trồng mai là 363 hộ. Danh tiếng trong nghề trồng mai kiểng thì mai kiểng Háo Đúc đã có trên 20 năm kể từ gia đình bác Đặng Xuân Lang phát triển trồng.

Ngày 28/5/2009 UBND tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 388/QĐ-UBND  công nhận "làng nghề trồng mai cảnh" Háo Đức, và cuối năm 2009 UBND huyện An Nhơn và xã Nhơn An cấp kinh phí xây dựng cổng làng nghề mai cảnh Háo Đức;


 

                                               Cổng làng nghề trồng mai cảnh Háo Đức

( Thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định)

-----------

                        (Còn tiếp)

LÀNG NGHỀ QUÊ HƯƠNG BÌNH ĐỊNH CHÚC MỪNG NĂM MỚI

langhe | 31 December, 2010 22:45

 
 
 
NĂM MỚI 2011,
LÀNG NGHỀ BÌNH ĐỊNH KÍNH CHÚC QUÍ VỊ ĐÃ BIẾT VÀ CHƯA BIẾT CÁC SẢN PHẨM TRUYỀN THỐNG LÀNG NGHỀ BÌNH ĐỊNH MỘT NĂM MỚI THỊNH VƯỢNG - THÀNH ĐẠT - HẠNH PHÚC
 
KÍNH MONG QUÍ VỊ NĂM MỚI ĐẾN THĂM CÁC LÀNG NGHỀ BÌNH ĐỊNH
 
RẤT HÂN HẠNH CHÀO ĐÓN QUÍ VỊ
 
 

 
 
 
 

LÀNG NGHỀ, và NGHỀ huyện AN NHƠN

langhe | 30 September, 2010 20:27

 

LÀNG NGHỀ, và NGHỀ huyện AN NHƠN

 

An Nhơn là một huyện đồng bằng, nằm ở tọa độ 130049' vĩ độ Bắc và 109018' kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên 242,17 km2, dân số khoảng 188.719 người, mật độ dân số khỏang 779 người/km2 phân bổ không đều tập trung cao ở hai thị trấn Bình Định, Đập Đá. Tỷ lệ lao động toàn huyện chiếm 53,65%.

Đơn vị hành chánh huyện An Nhơn gồm 13 xã và 2 thị trấn. Khi xưa, An Nhơn là vùng trung tâm của Vương Quốc Chămpa cổ đại với Kinh đô là Thành Đồ Bàn. Năm 1470, An Nhơn nằm trong huyện Tuy Viễn, cùng hai huyện khác là Bồng Sơn và Phù Ly hợp thành phủ Hoài Nhơn. Năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Qui Nhơn. Năm 1778, nhà Tây Sơn định đô tại An Nhơn, cải tạo Thành Đồ Bàn thành Thành Hoàng Đế. Năm 1799, sau khi chiếm được Thành Hoàng Đế của Tây Sơn, Nguyễn Anh đổi tên thành Thành Bình Định. Sau năm 1832, vua Minh Mạng lập Phủ An Nhơn gồm các huyện Tuy Phước và Tuy Viễn, dời Thành Bình Định về xây mới tại trung tâm thị trấn Bình Định hiện nay.

Huyện An Nhơn có hệ thống giao thông thuận lợi, có đường quốc lộ 1A, quốc lộ 19 và đường sắt Bắc Nam đi qua, gần sân bay Phù Cát tạo điều kiện giao lưu văn hóa, kinh tế trong và ngoài tỉnh.




LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG:

Do điều kiện lịch sử, địa lý và hành chính như trên nên huyện An Nhơn tập trung rất nhiều ngành nghề thủ công truyền thống do ông cha Tổ tiên để lại, hay những nghề theo kinh tế thị trường mà du nhập phát triển sau nầy. Các nghề được sản xuất tập trung, đầu tiên được truyền nghề trong gia đình dòng họ, sau đó phát triển mở rộng trong xóm làng, nhộn nhịp sản xuất từng loại sản phẩm hay các nhóm sản phẩm giống nhau cho từng nghề. Cơ chế thị trường đã phân chia nhiệm vụ cho từng cá thể hay nhóm cá thể theo từng công đoạn phục vụ: cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, và tiêu thụ sàn phẩm. Từ đó số lượng cơ sở sản xuất trong xóm-làng phát triển nhiều, số hộ sản xuất cùng nghề so với số hộ trong xóm-làng hơn 30%, dẫn đến các làng nghề được hình thành. Cho đến tháng 10-2010, trên toàn địa bàn huyện An Nhơn đã được Ủy ban nhân tỉnh công nhận 24 làng nghề gồm: 19 làng nghề  sản xuất tiểu thủ công nghiệp và 5 làng nghề sản xuất nông nghiệp

Từ khi có Quyết định số 131/2005/QĐ-UBND ngày 13/12/2005 của UBND tỉnh Bình Định về việc quy định công nhận làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh, và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, huyện An Nhơn đã sắp xếp tổ chức lại các làng nghề TTCN và lần lượt theo thời gian được UBND tỉnh công nhận các làng nghề truyền thống hay làng nghề  như sau:

+ Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 24/8/2007 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận 6 làng nghề:

          - Làng nghề Truyền thống Rượu Bàu Đá ở thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc: sản xuất, chế biến rượu.  

          - Làng nghề Truyền thống Rèn Tây Phương Danh ở thị trấn Đập Đá, sản xuất rèn nông cụ.

          - Làng nghề Truyền thống Nón lá Gò Găng ở xã Nhơn Thành, sản xuất nón lá các loại.

          - Làng nghề Truyền thống Tiện gỗ Mỹ nghệ Nhơn Hậu ở thôn Nhạn Tháp xã Nhơn Hậu, tiện và chạm khảm các sản phẫm gỗ mỹ nghệ.

          - Làng nghề Truyền thống Gốm Vân Sơn ở thôn Vân Sơn xã Nhơn Hậu, sản xuất sản phẩm gốm các loại.

          - Làng nghề Truyền thống Bún tươi Ngãi Chánh ở thôn Ngãi Chánh xã Nhơn Hậu, sản xuất bún tươi bằng gạo.

+ Quyết định số 880/QĐ-CTUBND ngày 16/4/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận 1 làng nghề:

          - Làng nghề Truyền thống Bánh tráng Trường Cửu ở thôn Trường Cửu xã Nhơn Lộc, sản xuất các loại bánh tráng.

+ Quyết định số 2516/QĐ-CTUBND ngày 30/9/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận 5 làng nghề:

          - Làng nghề Truyền thống Bánh tráng & Bún khô An Thái ở thôn An Thái,  xã Nhơn Phúc, sản xuất các loại bún khô, bánh phở, bún đậu xanh Song Thằn, và bánh tráng.

          - Làng nghề Truyền thống Bánh Ướt - Bánh Hỏi Nhơn Thuận ở thôn Nhơn Thuận, xã Nhơn Thành, sản xuất bánh ướt (bánh cuốn) và bánh hỏi.

          - Làng nghề Truyền thống Cốm An Lợi ở thôn An Lợi, xã Nhơn Thành, sản xuất các loại cốm như cốm nếp dẻo, cốm gạo, cốm bắp...

          - Làng nghề Truyền thống Đậu khuôn Vạn Thuận ở thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, sản xuất đậu hủ miếng từ đậu nành.

          - Làng nghề Truyền thống Đúc kim loại Bằng Châu ở khối Bằng Châu, thị trấn Đập đá, sản xuất các sản phẩm từ đúc kim loại như đồng, nhôm, gang...

+ Đồng thời theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, UBND Tỉnh Bình Định đã có Quyết định số 388/QĐ-UBND ngày 28/5/2009 công nhận 3 làng nghề nông nghiệp:

          - Làng nghề Trồng Mai cảnh Háo Đức ở thôn Háo Đức, xã Nhơn An, chuyên canh trồng mai cảnh các loại.

          - Làng nghề Trồng Mai cảnh Thanh Liêm ở thôn Thanh Liêm, xã Nhơn An, chuyên canh trồng mai cảnh các loại.

          - Làng nghề Trồng Mai cảnh Thuận Thái ở thôn Thuận Thái, xã Nhơn An, chuyên canh trồng mai cảnh các loại.

           + Quyết định số 174/QĐ-UBND ngày 14/4/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận 2 làng nghề nông nghiệp:

          - Làng nghề Trồng Mai cảnh Tân Dương, thôn Tân Dương, xã Nhơn An, chuyên canh trồng mai cảnh các loại.

          - Làng nghề Trồng Mai cảnh Trung Định, thôn Trung Định, xã Nhơn An, chuyên canh trồng mai cảnh các loại.

Trồng Mai cảnh có thu nhập khá hơn các loại cây trồng khác, nên hiện nay có nhiều xã trong huyện trồng mai, tuy nhiên vẫn nhiều nhất là xã Nhơn An.

+ Quyết định số 1487/QĐ-CTUBND ngày 13/7/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định công nhận 7 làng nghề:

- Làng nghề Truyền thống Chẻ Que nhang Bả Canh, thôn Bả Canh, thị trấn Đập Đá, chuyên chẻ que nhang ( còn gọi là chu nhang).

- Làng nghề Truyền thống Đan tre Đông Lâm, thôn Đông Lâm, xã Nhơn Lộc, chuyên đan tre các sản phẩm rổ cá, vĩ phơi bánh tráng....

- Làng nghề Đan giỏ tre Đại Bình, thôn Đại Bình, xã Nhơn Mỹ, chuyên đan giỏ tre để nhốt gà ....

- Làng nghề Truyền thống Nón lá Nghĩa Hòa, thôn Nghĩa Hòa, xã Nhơn Mỹ, chuyên sản xuất nón lá.

- Làng nghề Truyền thống Nón lá Đại An, thôn Đại An, xã Nhơn Mỹ, chuyên sản xuất nón lá.

- Làng nghề Truyền thống Nón lá Tân Nghi, thôn Tân Nghi, xã Nhơn Mỹ, chuyên sản xuất nón lá.

- Làng nghề Truyền thống Nón lá Thuận Đức, thôn Thuận Đức, xã Nhơn Mỹ, chuyên sản xuất nón lá.

HÃY GIÓNG CHIÊNG LÊN! ( Thơ Langhe )

langhe | 02 October, 2009 18:25

HÃY GIÓNG CHIÊNG LÊN!

TẶNG BỌ VINH ( NGUYỄN QUANG VINH )

 

Hãy gióng lên tiếng chiêng vang vọng

Hoan ca mừng "Mắt Phố" thành công

 

 

KHI XƯA BÌNH ĐỊNH CÓ LÀNG SẢN XUẤT CỒNG CHIÊNG PHỒN THỊNH!

langhe | 29 September, 2009 18:52

KHI XƯA BÌNH ĐỊNH CÓ LÀNG SẢN XUẤT CỒNG CHIÊNG PHỒN THỊNH!
 
 
LỊCH SỬ LÀNG CỒNG CHIÊNG MỸ THẠNH, NHƠN PHÚC, AN NHƠN, BÌNH ĐỊNH
 
 
 
 
 TƯ LIỆU THAM KHẢO NGHỀ SẢN XUẤT CỒNG CHIÊNG LÀNG MỸ THẠNH
 
Nghề cồng chiêng Bình Định-Bắc Ninh
Ngàn năm công đức nhớ Tiên Linh.
 
Nghề sản xuất cồng chiêng được du nhập vào Bình Định vào khoảng giữa thế kỷ 19, đầu tiên được cụ Dương văn Bảy quê ở Bắc Ninh, làng nghề đồng Đại Bái, Gia Bình. Cụ gia nhập lính thợ vào làm cho cung đình Huế, dưới thời vua Tự Đức, lúc đó tại Huế tập trung rất nhiều lính thợ. Ông ở Huế thời gian dài làm nhiều công việc và tham gia nghề điêu khắc giát đồng, được vua sắc tứ ban khen và trọng dụng vào hàng nghệ nhân với tước hàm Bát Phẫm.
Sau đó ông cùng hai người bạn thợ kết nghĩa anh em rủ nhau rời kinh thành Huế vào phương nam lập nghiệp. Đến Bằng Châu, Đập Đá, An Nhơn thì có vợ con và đổi họ Dương thành họ Nguyễn, và tạm ổn với bước đường phiêu bạt từ đất Bắc vào Phương Nam.
Để ổn định nghề nghiệp và mở rộng thương trường, ông cùng gia đình dời về phủ An Nhơn ( thị tứ An Thái khi xưa), nơi có dân cư đông đúc nha lại phồn hoa, và chính nơi đây ông đã chọn làm cơ sở lâu dài, nay là làng Mỹ Thạnh xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đầu tiên ông làm vật dụng bằng đồng trong gia đình như thau, mâm, lẫu đồng, bình cắm hoa, ống nhổ... và đồ trang sức bằng đồng, tất cả đều gò đồng tấm bằng tay. Thời kỳ này đồ đồng cực thịnh, ông dựa vào dòng sông Côn là đường thủy quan trọng để đi bán quanh vùng. Lúc bấy giờ người Hoa ở phủ An Nhơn rất đông, sau những lần tiếp thị mua bán ở An Khê, Mang Giang, ông thấy người dân tộc thiểu số họ có nhu cầu về cồng chiêng, ông về sản xuất và đem đến cho họ xem, họ rất thích, vì chiêng cồng ông làm bằng tay gò rất đẹp, giá lại rẻ, âm thanh rất tốt, độ bền cao.
Từ đó ông về sản xuất và bán cho họ, giai đoạn đầu ông cùng vợ con dùng ngựa thồ hàng, đường dốc nguy hiễm đi lại khó khăn đem lên Mang Giang để giao hàng, vì thế nên chiêng cồng lúc đó đến được người dân tộc như là báu vật rất quí, rất thiêng liêng. Từ đó nghề cồng chiêng bắt đầu chuyển mình, người dân tộc rất thích chiêng cồng sản xuất ở làng Mỹ Thạnh, nhất là thứ thiệt của lò " Hương Bổn Phượng" là lò sản xuất chiêng cồng uy tín chất lượng cao, họ rủ nhau có khi đi bộ mấy ngày đường từ các buôn làng ở An Khê, Gia Lai kéo xuống, dắt cả trâu bò đến làng Mỹ Thạnh để đổi lấy cồng chiêng.
Trong thời gian tìm hiểu, mua bán lúc đó vì còn sơ khai, rừng thiêng nước độc, ma thiêng vượn hú, nên vợ và hai con của ông bị bệnh sốt rét và chết trong làng dân tộc ở Mang Giang. Ông rất buồn và truyền nghề cho con cho cháu tiếp tục cái nghề mà ông chắc chiu mang từ Đại Bái vào, ông mất ngày 16/4/1890. 
Đến đầu thế kỷ 20 số lượng lớn cồng chiêng sản xuất ra để cung cấp nhạc cụ cồng chiêng cho người dân tộc đủ mọi chủng loại, loại 1 bộ 10 cái, 9 cái, loại 1 bộ 5 cái, loại 1 bộ 3 cái. Sau này vùng Đắc Lắc ăn loại chiêng khít 3 cái rất mạnh, riêng Kon Tum, Tây Nguyên họ dùng chiêng đa dạng. Mỗi vùng, mỗi dân tộc, mỗi bộ tộc họ đều xài bộ nhạc cồng chiêng riêng, dùng trong lể hội đâm trâu mở cửa mả... và cả khi chết họ chôn theo chiêng làm của.
 
Chiêng sau khi làm xong tạo hình dáng và kích thước theo đơn đặc hàng, lấy tiếng và chỉnh tiếng tại chổ do thợ cả đảm nhiệm, công đoạn này làm lâu năm mới có kinh nghiệm, sau đó đóng thành bộ 5 cái, 10 cái ...và chuyển đến người dân tộc. Người dân tộc có cách lấy tiếng riêng của mình cho phù hợp bản sắc nhạc đúng gu của họ, trong vài buôn làng có nghệ nhân chuyên lấy tiếng nốt nhạc ( chỉnh tiếng ), rất ít người làm nghề này, họ là nhạc sĩ dân tộc.
 
Cũng nhờ trong giai đoạn này mà nhạc cồng chiêng Tây Nguyên trở nên phong phú đa dạng, cũng giai đoạn này họ sáng chế ra nhiều bài nhạc cồng chiêng độc đáo rất hay, người thợ sản xuất cũng tạo ra nhiều mẫu mã chiêng cồng để phù hợp cho khách hàng.
 
Sau thời gian dài mãi đến 1980 nghề chiêng cồng dần bị mai một, do lúc này kinh tế khó khăn người dân tộc không mua chiêng. Sau này kinh tế khá giả, phương tiện nghe nhìn, nhạc cụ hiện đại, người dân tộc họ tiến bộ ít sử dụng nhạc cụ cồng chiêng như xưa nữa, nên các nghệ nhân sản xuất cồng chiệng dần dần chuyển nghề, thợ giỏi còn rất ít. Hiện nay số lượng cồng chiêng Tây Nguyên, kể cả số bộ tộc Lào, Campuchia nằm gần biên giới Việt Nam còn sử dụng phải nói là toàn bộ chiêng cũ và là 70% là chiêng cồng của làng nghề Mỹ Thạnh, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định sản xuất, đã góp phần hình thành cho nền nhạc cồng chiêng của người dân tộc huyền bí, thiêng liêng và hoành tráng.
 
Tháng 11 năm 2008 Âm Lịch
Hậu Duệ nghề sản xuất cồng chiêng làng Mỹ Thạnh
Nguyễn văn Cư 
 
 
 
VÀI HÌNH ẢNH VỀ NGHỀ SẢN XUẤT CỒNG CHIÊNG CÒN LẠI TẠI LÀNG MỸ THẠNH
 
 
 
THAM GIA GIAN HÀNG TRÌNH DIỄN SẢN XUẤT CHIÊNG
TRONG HỘI CHỢ LÀNG NGHỀ FESTIVAL TÂY SƠN BÌNH ĐỊNH
 
 
 
 
TRÌNH DIỄN LẬN GÒ CHIÊNG
 
 
 
KHÁCH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC THĂM GIAN HÀNG
 
 
 
KHÁCH NƯỚC NGOÀI ĐÁNH THỬ CHIÊNG
 
 
 
VÀ THỬ CỒNG
 
 
 
NGƯỜI DÂN TỘC MÌNH CŨNG ĐÁNH THỬ CHIÊNG THÍCH LẮM
 
 
 
ANH NGUYỄN VĂN CƯ ĐANG TRIỂN KHAI KÍCH THƯỚC TRÊN TẤM ĐỒNG ĐỂ GÒ THÀNH CHIÊNG
TẠI NGÔI NHÀ MÀ ÔNG CHA TỔ NGHỀ CHIÊNG ĐỂ LẠI CHO ANH CHĂM SÓC TỪ ĐƯỜNG
 
 
 
TIẾN HÀNH GÒ CHIÊNG
 
 
 
Làng nghề cồng chiêng Mỹ Thạnh một thời hằng ngày vang tiếng búa, tiếng chiêng,
tiếng cồng, tiếng phèng la... nay im lặng như một điệu nhạc buồn với tiếng ếch nhái....
 
 
 
 
Di tích còn lại một cơ xưởng sản xuất cồng chiêng lớn thời xưa
nay chỉ còn lại là một nhà từ đường bình thường ghi...lưu niệm gốc thợ chiêng!
 
 
 
 
Thời hưng thịnh cha của ông Nguyễn văn Cư là ông Phó Phượng đã khá giả
mà xây dựng căn nhà này từ năm 1963 ( giá trị lúc đó rất lớn vài trăm cây vàng)
 
 
 
 
Langhe đang gõ ... chỉnh tiếng chiêng, he he...nghệ ...nhân mà!
 
 
 
 
Anh Nguyễn Văn Cư đứng mà hồi tưởng đến những ngày ấu thơ chạy
nhảy tung tăng lúc cả làng nghề tụ tập tại ngôi miếu làng chiêng này mà giỗ tổ!
 
 
 
Ngôi chùa làng này là đất ông Nguyễn Nam ( thường gọi là Sâm ) một thợ chiêng giỏi
đã tự nguyện lấy đất vườn cùng bà con làng nghề lập chùa để làm nơi cầu nguyện
tâm linh hằng đêm ( phía sau chùa là xưởng chiêng của gia đình ông Nam, ông đã mất!)
 
 
 
Sau thời gian dài làng nghề ly tán, chùa xuống cấp trầm trọng, nhờ bà con
làng chiêng Mỹ Thạnh xưa định cư tại Mỹ gửi tiền về trùng tu sửa chữa!
 
 
 
Nghệ nhân sản xuất chiêng, chỉnh tiếng Nguyễn văn Yến nay đã 74 tuổi
sức già yếu, ông mong sao nghề chiêng phục hồi khi xưa, khi mà cái công
thợ của ông thời đó gấp 4-5 lần công thợ xây dựng. ôi thời huy hoàng còn đâu!
 
 
 
Mơ ước của hai thế hệ nghệ nhân sản xuất chiêng: lớp già Nguyễn Văn Yến,
lớp trẻ Nguyễn Văn Cư mong sao nghề cồng chiêng được phục hồi lại như xưa.
 
 
 
 
 
CỒNG VÀ CHIÊNG ĐỦ BỘ ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI BẢO TÀNG QUANG TRUNG-TÂY SƠN
 
 
 
MỘT CHIÊNG LỚN ĐƯỢC LƯU GIỮ BẢO TỒN
 
 
 
AI CÓ NHU CẦU MUA CỒNG CHIÊNG ĐỂ DÙNG, ĐỂ TẶNG, ĐỂ TRANG TRÍ NỘI THẤT
 
XIN LIÊN HỆ ANH NGUYỄN VĂN CƯ
 
ĐIỆN THOẠI : 056 3610632
 
ĐỊA CHỈ : thôn MỸ THẠNH, xã NHƠN PHÚC, huyện AN NHƠN, tỉnh BÌNH ĐỊNH
 
-------------------
 
Chân thành cảm ơn các bạn xem hết entry này và chia sẻ!

TẤM LÒNG CỦA ANH VĂN CÔNG HÙNG VIẾT BÀI BÁO " Độc đáo chiêng Mỹ Thạnh "!

langhe | 28 September, 2009 05:05

TRƯỚC KHI TRỞ LẠI BLOGS LÀNG NGHỀ, TÔI CÓ MỘT TRĂN TRỞ LÀ TẠI QUÊ TÔI NGÀY XƯA CÓ MỘT LÀNG NGHỀ TRÙ PHÚ CHUYÊN SẢN XUẤT CỒNG CHIÊNG BẰNG ĐỒNG TẤM GÒ, ĐÓ LÀ LÀNG NGHỀ CHIÊNG MỸ THẠNH, NHƯNG ĐẾN NĂM 1980 TRỞ LẠI NGHỀ NÀY BỊ MAI MỘT, CÁC NGHỆ NHÂN BIẾT SẢN XUẤT CÒN LẠI ĐẾM TRÊN ĐẦU BÀN TAY, TRONG ĐÓ CÓ ANH NGUYỄN VĂN CƯ LÀ HẬU DUỆ CUỐI CÙNG CỦA ÔNG TỔ LÀNG NGHỀ ĐẦU TIÊN ĐEM NGHỀ GÒ SẢN XUẤT CỒNG CHIÊN ĐẾN ĐẤT NGHÈO MỸ THẠNH!

KHI XƯA TRÙ PHÚ, SẢN PHẪM CỒNG CHIÊNG TIÊU THỤ TRÀN NGẬP TÂY NGUYÊN, CHIẾM 70 ĐẾN 80% SỐ CỒNG CHIÊNG TẠI CÁC BẢN LÀNG NGƯỜI DÂN TỘC, CỒNG CHIÊNG TRÀN QUA LÀO VÀ CAMPUCHIA, ĐƯỢC DÂN TỘC CÁC NƯỚC TÍN NHIỆM LÀM NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG.

NGÀY HÔM NAY LỄ HỘI CỒNG CHIÊNG ĐƯỢC UNESSCO CÔNG NHẬN LÀ VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ CỦA NHÂN LOẠI. NHƯNG LÀNG NGHỀ CHIÊNG MỸ THẠNH LẠI CÓ NGUY CƠ MAI MỘT!

ĐÓ LÀ NỖI ĐAU TRĂN TRỞ! VÌ TRÃI DÀI GẦN 30 MẤT BẠN HÀNG, HƠN NỮA NGƯỜI DÂN TỘC CÓ CÒN XEM CỒNG CHIÊNG QUÍ NHƯ NGÀY XƯA?!

KHI TỈNH BÌNH ĐỊNH TỔ CHỨC FESTIVAL TÂY SƠN-BÌNH ĐỊNH, CHÚNG TÔI TỪ CẤP TỈNH, HUYỆN, XÃ...ĐỘNG VIÊN ANH NGUYỄN VĂN CƯ TRỞ LẠI NGHỀ BẰNG MỘT GIAN HÀNG TRÌNH DIỄN TẠI HỘI CHỢ LÀNG NGHỀ, BAN TỔ CHỨC HỘI CHỢ ĐÃ CHI PHÍ TOÀN BỘ TỪ NGUYÊN VẬT LIỆU, NHÂN CÔNG, ĂN, Ở NGHĨA LÀ TẠO ĐIỀU KIỆN TỐI ĐA ĐỂ CÁC ANH YÊN TÂM THAM GIA.

TRÃI QUA HƠN MỘT NĂM CŨNG CHƯA CÓ NGUỒN TIÊU THỤ ĐỂ KHÔI PHỤC SẢN XUẤT!

VỪA RỒI, BIẾT TỈNH GIA LAI TỔ CHỨC FESTIVAL CỒNG CHIÊNG QUỐC TẾ LẦN THỨ NHẤT TẠI PLEIKU-GIA LAI, VÀ THẤY TRONG BLOGS VĂN CÔNG HÙNG ĐƯA BÀI " LÀNG TÂY NGUYÊN-KHÔNG GIAN CỒNG CHIÊNG" LANGHE ĐÃ VÀO COM TÂM SỰ CÙNG ANH VĂN CÔNG HÙNG.

MỘT TẤM LÒNG NGHĨA CỬ CẢM THÔNG CỦA MỘT NHÀ BÁO, NHÀ THƠ, BLOGGER VĂN CÔNG HÙNG ĐÃ TIẾP SỨC BẰNG MỘT BÀI BÁO " ĐỘC ĐÁO CHIÊNG MỸ THẠNH " TRÊN BÁO GIA LAI RA NGÀY THỨ TƯ ( Ngày 23/9/2009) BÀI BÁO NÀY ĐÃ CÓ TIẾNG NÓI GIÚP CHO LÀNG NGHỀ CHIÊNG MỸ THẠNH QUÊ TÔI CÓ THỂ ĐƯỢC BAN TỔ CHỨC TẠO ĐIỀU KIỆN GIÚP ĐỠ "CHO THAM GIA" FESTIVAL CỒNG CHIÊNG GIA-LAI LẦN THỨ NHẤT !

CŨNG ĐỘNG LỰC NÀY GIÚP TÔI LANGHE THAM GIA LẠI VNWEBLOGS, MỘT CÁI TÌNH ẢO VNWEBLOGS NHƯNG RẤT CHÂN THẬT MÀ TÔI KHÔNG BAO GIỜ QUÊN!

XIN CẢM ƠN ANH VĂN CÔNG HÙNG, XIN CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ VÀO ĐỌC ĐÔI LỜI TÂM SỰ CỦA LANGHE VÀ BÀI BÁO CỦA BLOGGER VĂN CÔNG HÙNG!

 

Cập nhật lúc 20:28' 23/09/2009 (GMT+7) BÁO GIALAI điện tử

Độc đáo chiêng Mỹ Thạnh

 

Cách đây gần 30 năm, trong một chuyến xuống làng điền dã sưu tầm văn hóa dân gian, tôi được nghe kể, ở huyện An Nhơn (Bình Định) có một lò chiêng đã từng rất nổi tiếng, chiêng ở đây được đồng bào Tây Nguyên rất ưa dùng. Nhưng rồi tôi quên bẵng đi.

Mới đây, sau liên tục mấy bài về chiêng của tôi in trên Báo Gia Lai trong chuyên mục “Tiến tới Festval Cồng chiêng Quốc tế tại Gia Lai năm 2009” thì có một bạn đọc ở Bình Định gọi điện và giới thiệu cho tôi làng nghề gò chiêng ở Mỹ Thạnh, Nhơn Phúc, An Nhơn (Bình Định), và cho rằng làng chiêng này đã từng có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên.

 

Chung

 

Anh Nguyễn Văn Cư đang gò chiêng. Ảnh: Langhe

 

Cái khác của làng nghề chiêng này là họ không đúc mà lại gò. Tổ tỉ vốn từ làng nghề Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, nghề gò chiêng này du nhập vào Bình Định từ thế kỷ XVIII do nghệ nhân Dương Bảy truyền nghề từ một đợt triều đình tuyển lính thợ Bắc Ninh vào xây dựng kinh thành Huế. Sau khi hoàn thành công việc, cụ rời kinh thành Huế vào lập nghiệp tại Đập Đá, Bình Định, đổi sang họ Nguyễn, sau đó rời tiếp về Mỹ Thạnh như hiện nay.

Giai đoạn phát triển mạnh nhất của làng nghề này là vào thế kỷ XIX. Chiêng Mỹ Thạnh gò bằng tay rất đẹp, giá lại rẻ, âm thanh tốt, độ bền cao. Có thời trước 75, hàng tuần chiêng của làng chất đầy các xe Cam Nhông trực chỉ đường 19 ngược Tây Nguyên cung cấp cho các làng đồng bào. Không chỉ thế, nó còn tiện đường sang cả Lào và Campuchia.

Sau một thời gian phồn thịnh, gần đây làng nghề đang có nguy cơ mai một vì chiêng gò ra không bán được nhiều như ngày xưa. Nghệ nhân chân truyền, hậu duệ cuối cùng của cụ Bảy, người có tay nghề cao nhất về gò chiêng hiện nay ở Mỹ Thạnh là anh Nguyễn Văn Cư, thế mà nhiều khi cũng... thất nghiệp.

Vừa rồi nhân có Festival Tây Sơn- Bình Định, làng nghề gò chiêng Mỹ Thạnh có một gian hàng, biểu diễn gò và bán chiêng tại chỗ được rất nhiều khách tham quan ghé lại.

Ao ước của các nghệ nhân làng nghề gò chiêng Mỹ Thạnh- An Nhơn hiện nay là nhân Festival Cồng chiêng Quốc tế tại Gia Lai, làng được tạo điều kiện để có một gian hàng. Theo tôi biết, trong kịch bản của Festival cồng chiêng lần này có hẳn một khu làng nghề truyền thống để giới thiệu với du khách, chắc rằng ước muốn chính đáng và thân thiện của các nghệ nhân gò chiêng làng nghề Mỹ Thạnh là có một gian hàng để làm chiêng tại chỗ sẽ được đáp ứng thôi, vì nó sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để Festival thành công...

Tác giả : Văn Công Hùng

 

TÔI VỪA NHẬN BÀI VIẾT THỨ 2 CỦA ANH VĂN CÔNG HÙNG VỀ LÀNG CHIÊNG MỸ THẠNH

( Nhận qua email )

 

CÒN MỘT LÀNG CHIÊNG LIÊN QUAN ĐẾN CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN

VĂN CÔNG HÙNG

Cách đây gần ba chục năm, trong một chuyến xuống làng điền dã sưu tầm văn hóa dân gian, tôi được mấy giáo sư nổi tiếng kể rằng ở huyện An Nhơn có một lò chiêng đã từng rất nổi tiếng, chiêng ở đấy được đồng bào Tây Nguyên rất ưa dùng. Nhưng rồi tôi quên bẵng đi, trong sự quan tâm và rất nhiều bài viết của mình về chiêng tôi chỉ nhắc đến làng chiêng Phước Kiều ở Quảng Nam, đơn giản bởi vì mỗi lần về thăm quê ở Huế bằng đường bộ, tôi đều đi qua cái làng đúc đồng nổi tiếng này.

Mới đây, sau liên tục mấy bài về chiêng của tôi in trên báo nhân việc Gia Lai sắp tổ chức Festval cồng chiêng quốc tế năm 2009 thì có một bạn đọc ở Bình Định gọi điện và giới thiệu cho tôi làng nghề gò chiêng ở Mỹ Thạnh, An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định, và cho rằng làng chiêng này đã từng có ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên.

Chúng ta đều biết là người Tây Nguyên chơi chiêng, tạo ra cả một nền văn hóa chiêng nhưng họ lại không làm được chiêng, mà họ mua hoặc đổi chiêng từ vùng đồng bằng Việt Nam và tận bên Lào. Nhưng khi tiếp xúc với làng chiêng Mỹ Thạnh này thì chúng tôi được cung cấp rằng, chiêng của họ cũng đã sang cả Lào.

Cái khác của làng nghề chiêng này so với làng chiêng Phước Kiều là họ không đúc mà lại gò. Tổ tỉ vốn từ làng nghề Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, nghề gò chiêng này du nhập vào Bình Định từ thế kỷ 18 do nghệ nhân Dương Bảy truyền nghề từ một đợt triều đình tuyển lính thợ Bắc Ninh vào xây dựng kinh thành Huế. Sau khi hoàn thành công việc, cụ rời kinh thành Huế vào lập nghiệp tại Đập Đá, Bình Định, đổi sang họ Nguyễn, sau đó rời tiếp về Mỹ Thạnh như hiện nay.

Giai đoạn phát triển mạnh nhất của làng nghề này là vào thế kỷ 19, họ đã cung cấp cho các làng đồng bào dân tộc Tây Nguyên rất nhiều bộ chiêng độc đáo gò bằng tay mà hiện nay theo như một số nghệ nhân của làng cho biết, người Tây Nguyên rất thích và còn dùng rất nhiều, thậm chí nhiều bộ là chiêng quý. Chiêng Mỹ Thạnh gò bằng tay rất đẹp, giá lại rẻ, âm thanh tốt, độ bền cao. Có thời trước 75, hàng tuần chiêng của làng chất đầy các xe Cam Nhông trực chỉ đường 19 ngược Tây Nguyên cung cấp cho các làng đồng bào. Không chỉ thế, nó còn tiện đường sang cả Lào và Campuchia. Lịch sử làng nghề còn ghi: "Người dân tộc Tây Nguyên rủ nhau có khi đi bộ mấy ngày đường từ các buôn làng ở An Khê, Gia Lai kéo xuống, dắt cả trâu bò đến làng Mỹ Thạnh để đổi lấy cồng chiêng". Bản thân vợ và hai con của cụ Bảy cũng đã chết tại Mang Yang khi đang đi giao chiêng cho người Ba Na ở đây. Nhiều người già ở Pleiku bây giờ xác nhận đã từng đi buôn chiêng Mỹ Thạnh lên Pleiku bán cho người dân tộc.

Sau một thời gian phồn thịnh, gần đây làng nghề đang có nguy cơ mai một vì chiêng gò ra không bán được nhiều như ngày xưa. Nghệ nhân chân truyền, hậu duệ cuối cùng của cụ Bảy, người có tay nghề cao nhất về gò chiêng hiện nay ở Mỹ Thạnh là anh Nguyễn Văn Cư, thế mà nhiều khi cũng... thất nghiệp. Vừa rồi nhân có Festival Tây Sơn Bình Định, làng nghề gò chiêng Mỹ Thạnh có một gian hàng, biểu diễn gò và bán chiêng tại chỗ được rất nhiều khách tham quan ghé lại.

Ao ước của các nghệ nhân làng nghề gò chiêng Mỹ Thạnh An Nhơn hiện nay là nhân Festival cồng chiêng quốc tế tại Gia Lai lần này, làng được tạo điều kiện để có một gian hàng tại cái nơi được mệnh danh là không gian văn hóa cồng chiêng đã được UNSCO công nhận là kiệt tác phi vật thể của nhân loại. Bao nhiêu đời làm chiêng mà người sản xuất và người sử dụng chưa bao giờ gặp nhau, thêm nữa, họ biết có hoạt động của các nghệ nhân chỉnh chiêng tại Festival nên càng muốn làm chiêng tại chỗ rồi các nghệ nhân chỉnh chiêng tại chỗ để giao lưu học hỏi lẫn nhau (khi mua chiêng về người Tây Nguyên còn một công đoạn là phải chỉnh chiêng thì mới sử dụng. Việc này người Kinh không làm được)... Điều này có đến bốn năm phần lợi, từ phía ban tổ chức, người làm chiêng, người chơi chiêng, người chỉnh chiêng và du khách.

Theo tôi biết, trong kịch bản của Festival cồng chiêng lần này có hẳn một khu làng nghề truyền thống để giới thiệu với du khách, chắc rằng ước muốn chính đáng và thân thiện của các nghệ nhân gò chiêng làng nghề Mỹ Thạnh là có một gian hàng để làm chiêng tại chỗ sẽ được đáp ứng thôi, vì nó sẽ là một yếu tố quan trọng để Festival thành công...

V.C.H  

CUỘC HỘI NGỘ BẤT NGỜ!

langhe | 26 September, 2009 23:01

Cách đây 4 hôm, nhận được điện thoại của Thanh Xuân Hạt Cát nhờ hướng dẫn đoàn phóng viên đài truyền hình Bình Thuận đi làm phóng sự làng nghề rượu Bàu Đá và làng nghề nón lá Gò Găng.

Sáng nay tiếp các chàng trai trẻ phóng viên đài truyền hình Bình Thuận, nhớ có blogger Hoa Lục Bình ở Bình Thuận liền hỏi thăm, ai dè chàng trai trẻ mau mắn cho biết tên cô Kim là thủ phó hiện có mặt tại Qui Nhơn và cho số điện thoại, thế là có cuộc hội ngộ bất ngờ tối hôm nay tại nhà hàng Hoàng Hậu.

Sau đây là các hình ảnh thân tình trong thế giới ảo vnweblogs:

 

Hạt Cát - Langhe - Hoa Lục Bình - Hà My - Rêu

với bữa cơm... chay đạm bạc 

 

Ba người đẹp vnweblogs Hoa Lục Bình - Hà My - Rêu

đang cụng ly nước...lọc mừng hội ngộ

 

Hai cô nữ blogs xinh đẹp Bình Định

thật tình xơi hai dĩa cơm chiên thập cẫm thật là ngon!

 

Các blogger Bình Định có chút quà nhỏ ( bún đặc sản Song Thằng )

của làng nghề xứ Nẫu gửi Hoa Lục Bình và Nguyễn Lâm Cúc để nhớ mãi quê hương đất võ Quang Trung

 

Cuộc hội ngộ chân tình xin chia tay và hẹn gặp lại!

MỘT BÀI THƠ TÌNH HAY

langhe | 24 September, 2009 22:31

Sau thời gian dài vắng bóng trên trang langhe, sau khi com nhà anh Văn Công Hùng, Hà Nguyên thức tỉnh cần phải viết tiếp các entry làng nghề Bình Định sau thời gian dài để ngủ quên! Để khởi động lại Hà Nguyên xin đưa một bài thơ tình...

Nguyên nhân có bài thơ này là : Trong lúc hàn huyên cùng anh bạn Lâm Huy Ánh ( con trai lớn của nhà thơ Yến Lan tác giả bài thơ Bến My Lăng ), được anh Ánh ngâm diễn một bài thơ tình của anh Lâm Yên mà theo cảm nhận riêng của Hà Nguyên rất hay và rất cảm động!

 

HỒI KÝ BIỆT LY

 

Đường xưa không thấy bóng

Em ơi! giờ đang đâu.

Chút hương chiều còn đọng

Thơm mùa lâu, lâu, lâu.

 

Từ nhớ nhung nơi ấy

Thương con cò dân ca

Đời đau theo trang giấy

Lật ngày qua, qua, qua.

 

Không dưng lòng bổng nhớ

Con đò một bến xưa

Mái chèo ai bỡ ngỡ

Giữa dòng mưa, mưa, mưa.

 

Đắng cay rồi còn lại

Rượu hoà tình nhau đây

Chén đời còn đọng mãi

Men nồng say, say, say.

 

Hà Nội, khoảng năm 1970

Tác giả: Lâm Yên

Kỷ sư kiến trúc xây dựng

 

Đọc xong bài thơ thật là cảm động cho một mối tình!

Đúng là anh Lâm Yên con nhà nòi làm thơ ( anh Lâm Yên gọi nhà thơ Yến Lan là chú ruột )

Một nhà kiến trúc sư mà làm thơ tình hay quá!

MỪNG LỄ PHẬT ĐẢN, VỀ KHU TÂM LINH PHẬT GIÁO BÁI ĐÍNH - CỐ ĐÔ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH.

langhe | 10 May, 2009 05:30

KHU TÂM LINH PHẬT GIÁO

BÁI ĐÍNH

 

BÀN TAY NHỮNG NGHỆ NHÂN

LÀNG NGHỀ VIỆT NAM GÓP PHẦN SÁNG TẠO

 

      Trong dịp ra Nam Định chúng tôi có một buổi thăm quan chùa Bái Đính mới. Chúng tôi đã tìm đọc cuốn sách " BÁI ĐÍNH ngàn năm tâm linh và huyền thoại" của tác giả Trương Đình Tưởng để hiểu rõ về Khu Tâm Linh Phật Giáo Bái Đính đang xây dựng này.

 

 

      Theo quy hoạch, chùa Bái Đính mới bao gồm cả khu vực rộng lớn gồm nhiều hạng mục công trình được gọi chung là " Khu Tâm Linh Phật Giáo Bái Đính " với diện tích tổng thể:

      -Điện thờ Tam thế 2.053 mét vuông

      -Điện thờ Pháp chủ Thích Ca Mâu Ni 2.000 mét vuông

      -Điện thờ Quan Thế Âm Bồ Tát 676 mét vuông

      -Điện thờ 500 vị La Hán 12.000 mét vuông

      -Các công trình phụ trợ khác 13.270 mét vuông...

      Và các khu phụ trợ khác như Công viên văn hoá và học viện Phật Giáo 30,28 Ha; khu đón tiếp và công viên cảnh quan 15 Ha; khu hồ Đàm thị và hồ Phóng sinh 143,70 Ha; khu cây xanh cách ly và bảo tồn 121,03 Ha. Lại còn có cả đường bê tông rộng lớn đi vòng quanh núi Bái Đính để có thể thưởng ngoạn toàn bộ phong cảnh núi sông hữu tình, kiến trúc đồ sộ, kỳ mỹ của khu tâm linh.

      Khu chùa Bái Đính mới xây dựng theo độ dốc " soi gương " cao dần theo trục thần đạo từ Tam quan đến điện Tam Thế, theo kiểu " nội công ngoại quốc ", các kiến trúc chính như cửa Tam Quan, gác chuông, điện Phật Bà Quan Âm, điện Pháp Chủ, và điện Tam Thế theo kiến trúc ngôi chùa cổ Việt Nam.

      Để có thể hình dung tổng thể các kiệt tác do tay nghề của người thợ làng nghề Việt Nam đã xây dựng và sáng tạo nên Khu Tâm Linh Phật Giáo lớn nhất Việt Nam này, xin đưa hình ảnh theo thứ tự các kiến trúc từ ngoài  Tam Quan vào trong và từ dưới thấp lên đến trên cao là điện Tam Thế:

1- TAM QUAN lớn nhất Việt Nam:

 

 

      Tam quan có hình dáng " lộng tàn ", xây dựng theo kiểu chồng giường, gồm 3 tầng mái cong, mỗi tầng 4 mái, 2 tầng dưới 8 mái lá bát quái, tầng trên 4 mái và nóc là ngũ hành, mái lợp ngói ống nâu sẫm, tiền bẩy, hậu bẩy, xà nách, cao 16,50 m, chu vi 32,0mx13,50m, tất cả bằng gỗ tứ thiết. Có tổng cộng 24 cột lớn: 4 cột cái mỗi cột cao 13,85m, D  = 0,87m; 4 cột trung mỗi cột cao 11,0m, D = 0,75m; và 16 cột con chung quanh mỗi cột cao 5,00m, D  = 0,65m. Xây dựng Tam quan đã sử dụng hết 550 tấn gỗ tròn.

 

 

       Hai gian phụ Tam quan đặt tượng 2 ông Hộ Pháp bằng đồng, mỗi pho tượng cao 5,50m, nặng 12 tấn. Và 8 tượng Kim Cương ( Vajrapani ), mỗi vị nặng 8 tấn được " bố trí " đứng ngay từ cổng Tam quan cùng 2 vị Hộ Pháp.

 

 

 

      Phía hai bên hông Tam quan là 2 dãy toà nhà gỗ nối liền nhà Tam quan với nhà hành lang La Hán, theo lối kiến trúc cổ, mỗi toà 16 gian, dài 70,00m ( mỗi gian rộng 4,5m )

 

2- LA HÁN ĐƯỜNG VÀ 500 TƯỢNG LA HÁN:

 

 

      Dãy La Hán đường bằng gỗ đang được xây dựng

 

 

      500 vị La Hán được nghệ nhân làng nghề Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chế tác. Các pho tượng La Hán được đặt trong 2 dãy La Hán đường dài từ Tam quan đến điện Tam Thế ( hai dãy La Hán Đường đang xây dựng bằng gỗ, hình trên ). Chùa Bái Đính được xác lập kỷ lục nhất quốc gia là chùa có số tượng La Hán lớn nhất Việt Nam.

 

3- THÁP CHUÔNG:

CHUÔNG ĐỒNG lớn nhất VIỆT NAM

 

 

Bước qua Tam quan là gặp Tháp chuông

 

 

      Khác với Tam quan được xây bằng gỗ tứ thiết, Tháp chuông được xây dựng bằng bê tông cốt thép gia gỗ. Tháp chuông hình bát giác có 3 tầng mái cong, thu dần lên đỉnh tháp, tổng cộng 24 mái lợp ngói ống tráng men màu nâu sẫm. Mỗi tầng 16 cột ( 8 cột cái và 8 cột con ). Tầng 1 cột cái cao tới 16,00m, d = 0,80m. Cột con cao 8,00m, d = 0,70m. Chóp tháp chuông hình búp sen, cao 3,50m, toàn bộ tháp chuông cao 18,25m, đường kính 17,00m, tính cả chân đế là 49,00m. Tháp chuông là hình tượng bông sen cách điệu khổng lồ. 

 

 

      Tháp được treo " Đại Hồng Chung ' bằng đồng nặng 36 tấn, do các nghệ nhân làng nghề Phường Đúc của thành phố Huế đúc.

 

      Đây là quả chuông đồng lớn nhất Việt Nam, hiện nay đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận kỷ lục " chuông lớn nhất Việt Nam ". Khi đánh phải dùng chày kình dài 4m, đường kính 0,30m, nặng gần 5 tạ gỗ tứ thiết.

 

      Chuông được luyện pha vàng, lại treo trên tháp cao ở sườn đồi của vùng núi sông kỳ vĩ, nên khi chuông ngân lên, tiếng chuông âm vang, đồng vọng từ các hang động, vách núi, khiến người nghe như từ thinh không vọng xuống, từ thập phương Phật vọng về. Cách xa hơn 10 km vẫn nghe thấy tiếng chuông ngân nga, âm vang lan toả.

 

4- ĐIỆN QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT:

Pho tượng Phật Quan Âm bằng đồng lớn nhất Việt Nam

 

 

      Từ tháp chuông đi qua thảm cỏ là tới Điện Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhìn từ bên ngoài, Điện được xây dựng trên triền đồi cao hơn tháp chuông và Tam quan, hình dáng " lộng tàn ', kiến trúc 2 tầng kiểu 4 mái ( bát quái ), lợp ngói ống tráng men nâu. Điện cao 14,80m, chu vi 40,41m x 16,80m. Có 7 gian, gian Trung Đường, 4 gian rộng và 2 gian chái hai bên. Trong điện có 2 hàng cột cái, mỗi hàng 16 cột. cao 11,80m, d  = 0,70m. Xung quanh có 24 cột, cao 4,8m, d = 0,56m. Các cột đều bằng gỗ tứ thiết. Điện Quan Thế Âm Bồ Tát được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ tứ thiết, 900 khối gỗ tròn được dùng xây dựng.

 

 

 

      Pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát có khuôn mặt to sáng, sau 2 bên mặt Phật có 2 mặt nhỏ quay ra 2 bên, đầu đội mũ Phật 3 tầng xếp chồng, trên đó có 8 mặt Phật nhỏ nữa và 1 tượng Phật nhỏ ngồi trên đỉnh cao nhất. Hai bên trái và phải phía toà sen trước tượng có 42 cánh tay: 2 tay chắp trước ngực,  2 tay bắt chéo để trên lòng, mỗi bên có 18 cánh tay xoè ra như hào quang. Phía sau tượng Quan Thế Âm Bồ Tát là 1 lá sen lớn bằng đồng mạ vàng có hình tròn, đường kính rộng tới 5,50m và 16 vòng tròn nhỏ đồng tâm, trang trí hoa văn, nhô ra 958 cánh tay nhỏ, mỗi cánh tay dài 0,60m, có hình con mắt. Trên cao, ngọn lá đề lại có 2 mặt tượng nữa.

      Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát " Thiên thủ thiên nhãn " ( nghìn mắt nghìn tay ) cao 9,57m, nặng 80 tấn, là pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Nếu tính cả bệ hoa sen bằng đồng thì trọng lượng gần 100 tấn.

 

      Khi chúng tôi đến thăm quan thì tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát đang được lắp dựng. Đây là pho tượng kiệt tác của nghệ nhân bàn tay vàng làng nghề đúc Ý Yên - Nam Định mà trong entry trước có đề cập. Đây là pho tượng có giá trị rất lớn về nghệ thuật đúc đồng hiện đại của nước ta.

 

5- ĐIỆN PHÁP CHỦ :

Pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn nhất Việt Nam

 

 

      Từ Điện Quan Thế Âm Bồ Tát, theo trục hướng Thần đạo là hồ Phóng Sinh, đến một đồi cao hơn là đến Điện Pháp Chủ

 

      Gọi là Điện thờ Pháp Chủ vì ở đây thờ Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra đạo Phật, nên người ta gọi là Thích Ca Pháp Chủ. Điện kiến trúc 2 tầng mái cong, mỗi tầng 4 mái, đều lợp ngói men ống nâu và một hàng cổ lâu tạo độ cao thông không khí và lấy ánh sáng mặt trời.

      Điện là một công trình kiến trúc đồ sộ, hoành tráng: Cao 30,00m, chu vi 44,70m x 43,30m, tổng diện tích tới 1.945 mét vuông. Điện có 5 gian, gian Trung đường dài 13,5m, mỗi bên 2 gian mỗi gian dài 8,13 m. Điện có 4 hàng cột gồm 56 cột bê tông cốt thép giả gỗ, 2 cột cái và 2 cột trung ở giữa, cột cái cao 22,60m, đường kính 1,00m, cột trung cao 17,20m, đường kính 0,80m, mỗi hàng 4 cột. Xung quanh Điện có 20 cột, cột con cao 9,00m, d = 0,70m, và 20 cột con ở hiên cao 7,4m, d= 0,70m.

 

      Các cột trong Điện làm bằng bê tông cốt thép, ốp gỗ và sơn phủ vân gỗ bên ngoài nên thoạt nhìn lầm tưởng ở đây cũng kiến trúc toàn bằng gỗ quí.

 

 

       Gian Trung đường đặt tượng Thích Ca Mâu Ni ngồi trên toà sen bằng đồng khối mạ vàng, cao 10,00m, nặng tới 100 tấn. Pho tượng là công trình nghệ thuật tuyệt tác của các nghệ nhân bàn tay vàng đúc đồng Ý Yên - Nam Định.

      Đây là pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận kỷ lục.

 

      Điều đáng chú ý nữa là: gian Trung điện có một sập thờ khổng lồ bằng gỗ vàng tâm với kích thước 8,55m x 4,52m x cao 1,27m, diện tích mặt sập tới 39,00 mét vuông, dầy 0,10m. Sập có 8 chân vuông 0,45m chạm rồng uốn kênh bong. Sập được đục chạm 4 mặt. Giữa sập chạm hoa sen và bánh xe Pháp Luân biểu thị huyền diệu của Phật Pháp. Phần diềm sập được chạm hàng ngàn lá đề và canh sen cách điệu cầu kỳ, tinh xảo. Để làm được sập khổng lồ này người nghệ nhân làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh đã xử dụng hết 10 mét khối gỗ vàng tâm thành khí.

      Đây là sập thờ gỗ lớn nhất, đẹp nhất trong các ngôi chùa Việt Nam hiện tại.

      Trong điện còn đôi hạc đồng, mỗi con cao 4,50m, nặng 1 tấn, 1 lư đồng dài 1,80m x 1,00m, lồng đèn cao 4,00m.

 

6- ĐIỆN TAM THẾ :

Ba pho tượng Phật Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

 

       Điện Tam Thế được xây dựng trên sườn đồi " Ba Rau " ( một truyền thuyết li kỳ dân dã của Đức Thánh Nguyễn Minh Không thuở sinh thời - xem sách đã dẫn ). Điện nằm giữa khuôn viên, riêng sân xung quanh rộng tới 13.000 mét vuông. Từ cổng Tam Quan đến bậc thềm điện Tam Thế theo đường trục thần đạo dài 812m.

 

      Lên điện Tam Thế theo hai lối, mỗi lối rộng 8,00m bằng 32 bậc đá. Độ cao từ sân lên nền điện cao 4,00m, nên nhìn từ dưới lên điện Tam Thế như một ngôi nhà sàn khổng lồ, 3 mái chồng giường.

 

 

      Lan can hai lối lên điện được chạm khắc 4 con rồng đá chầu theo độ dốc như đang bò trườn xuống đón chào Phật Tử, quý khách. Bốn con rồng được chạm khắc giống hình tượng rồng ở điện Kính Thiên thời Hậu Lê tại Kinh đô Thăng Long.

 

      Giữa hai lối lên xuống điện được trang trí bức phù điêu đá hình vuông 10,00m x 10,00m bằng cách lắp ghép nhiều phiến đá dày 0,20m trên chạm khắc tứ linh ( Long - Lân - Qui - Phụng ) tinh xảo, tài hoa.

 

 

      Điện Tam Thế là công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga, hoành tráng nhất trong số các công trình kiến trúc ở Chùa Bái Đính mới, và cũng là điện thờ Phật lớn nhất hiện nay ở nước ta. Chiều cao toà điện 34,00m, dài 59,10m, rộng 40,50m. Diện tích lòng Điện lên tới 2.364m.

      Kiến trúc điện Tam Thế về hình thức cũng giống như điện Pháp Chủ, nhưng có 3 tầng mái ( điện Pháp Chủ có 2 tầng mái ), mỗi tầng 4 mái lợp ngói ống tráng men nâu. Điện Tam Thế có 7 gian, 2 chái: gian chính điện rộng 10,50m, 2 gian hai bên rộng mỗi gian 9,00m, 4 gian hai bên kế tiếp mỗi gian rộng 7,2m, 2 chái mỗi gian rộng 4,50m.

      Toàn Điện có 66 cột :

         - 2 hàng cột cái phía trước 4 cột, hàng sau 2 cột, mỗi cột cao 24,8m, đường kính 1,10m.

         - 2 hàng cột trung mỗi hàng 6 cột, mỗi cột cao 16,20m, đường kính 0,8m.

         - 24 cột con ở xung quanh, và 24 cột khác ở hiên Điện, mỗi cột cao 9,00m, đường kính 0,70m.

 

      66 cột đều là bê tông cốt thép, ốp gỗ. Các xà ngang. dọc, rui, mè trong Điện đều sơn giả gỗ. Riêng các chuồng cánh cửa của Điện đều bằng gỗ lim.

 

       Điện Tam Thế thờ 3 pho tượng Tam Thế Phật :

         - Quá Khứ Phật: Pho tượng được đặt bên trái, biểu tượng Chư Phật thời quá khứ là Phật A Di Đà.

         - Hiện Tại Phật : Pho tượng được đặt ở giữa, biểu tượng Chư Phật thời hiện tại. Phật Giáo Đại thừa coi Thích Ca Mâu Ni là hoá thân của Phật hiện tại xuất hiện để giáo hoá chúng sinh.

         - Vị Lai Phật: Pho tượng được đặt bên phải, biểu tượng các Đức Phật Tương Lai, trong đó có Đức Phật Di Lặc.

 

      Ba pho tượng Phật Tam Thế có kích thước giống nhau, đúc bằng đồng dát vàng, mỗi pho cao 7,20m, nặng 50 tấn trên bệ cao 1,50m ốp đá. Trung Tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng " xác nhận kỷ lục " " Ngôi chùa có Tượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam ". Ba Pho Tượng này do nghệ nhân bàn tay vàng làng nghề đúc Ý Yên - Nam Định  đúc thành.

 

      Trong Điện Tam Thế còn có 3 sập thờ bằng gỗ vàng tâm, tuy không to bằng sập thờ ở Điện Pháp Chủ, nhưng nghệ thuật chạm khắc công phu tinh xảo không kém. Đó là những tác phẫm nghệ thuật giá trị cao về chạm khắc gỗ của nghệ nhân làng nghề Đồng Kỵ - Bắc Ninh.

 

      Cảnh sơn thuỷ hữu tình, từ tầm nhìn ở hành lang Điện Tam Thế về hướng Bắc ra Tam Quan, xa xa là sông Hoàng Long, núi Bồ Đình và núi Kỳ Lân

 

 

 

 

       Đường từ Thành Phố Ninh Bình lên Khu Tâm Linh Bái Đính dài 20 km, cảnh đẹp trên đường như tranh vẽ, núi đá vôi, đồng bằng, sông nước...và qua 2 hầm ngắn thông qua núi tuyệt đẹp, một kỳ quan trên mặt đất không có nơi nào sánh đẹp bằng...

      Vì toàn bộ công trình giao thông, xây dựng Chùa, cảnh quan ... đang quá trình xây dựng, nên còn ngổn ngang! Chắc chắn sau 2 năm nữa quay lại nơi nầy sẽ thấy toát hết nét đẹp của một quần thể tâm linh, phong cảnh...mà khó có nơi nào sánh kịp!

--------------------

 

HÌNH ẢNH TUYỆT TÁC CỦA QUẢ CHUÔNG RẤT LỚN ĐỂ TẠM ...TRƯỚC SÂN ĐIỆN PHÁP CHỦ.

 

Chuông đồng rất lớn cao trên 4 mét

 

Các hoa văn và văn thơ được đúc nổi chung quanh quả chuông đồng. Một tuyệt tác của nghệ thuật đúc chuông đồng của Việt Nam!

 

-------------------------

       Kính thưa quí vị, tôi lập entry này mục đích là nói lên nghệ thuật của các nghệ nhân làng nghề, các kỷ thuật tiên tiến của các nhà kiến trúc, nhà xây dựng, giao thông, và các bậc thầy phong thuỷ...đã góp phần tạo tác nên một quần thể tâm linh Phật Giáo lớn của Việt Nam. Chúng tôi mang tinh thần của người Việt Nam yêu quê hương Việt Nam dù rằng kiến trúc có mang sắc thái tôn giáo hay không tôn giáo! Quê hương Ninh Bình còn có một tuyệt tác về kiến trúc toàn bằng đá, đó là Nhà Thờ Đá Phát Diệm của Thiên Chúa Giáo, được xây dựng cách đây trăm năm, một kiến trúc nhà thờ toàn bằng đá độc nhất, đẹp nhất tại Việt Nam. Những kiến trúc tuyệt tác của loài người sẽ tồn tại mãi mãi thời gian, lưu truyền cho con cháu đời sau. Đó là tài sản vô giá!

      Việt Nam ta đã đau khổ mất mát khá nhiều di tích kiến trúc của cha ông xây dựng, mà do tranh chấp, do khác ý thức, do không bảo quản... mà đã làm sụp đổ, phá hỏng. Đau xót thay!

      Xin thành kính những thành quả của Tổ tiên ngày xưa, hôm nay, và mai sau của người Việt ta và nhân loại xây dựng nên!

      Trân trọng!

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

      Trong bài viết này, tôi hoàn toàn lấy tài liệu từ quyển sách " BÁI ĐÍNH ngàn năm tâm linh và huyền thoại " của tác giả TRƯƠNG ĐÌNH TƯỞNG, tôi xin phép tác giả lượng thứ và chấp nhận cho. Tấm lòng vì cái đẹp của Việt Nam xin anh Trương Đình Tưởng cho phép, tôi thành thật cảm ơn anh!

_______________________________________________________________________________________________________________________________________________

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DI TÍCH LÀNG GỐM CÂY ME CẦN BẢO TỒN!

langhe | 22 April, 2009 12:00

DI TÍCH LÀNG GỐM XƯA
 
 
      Huyện Tây Sơn, huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước, thuộc tỉnh Bình Định  nằm trên lưu vực sông Côn, đất đai màu mỡ trù phú, nước sông Côn không bao giờ khô cạn, thuyền bầu nan tre xưa có thể giao thương từ đầm Thị Nại lên đến thượng nguồn. Từ thời Chămpa đã hình thành các thành cổ dọc sông như Thành Cha ở Đông Lâm, Nhơn Lộc, An Nhơn hay kinh đô Đồ Bàn ở Nam Tân, Nhơn Hậu, An Nhơn...và thương cảng Nước Mặn ở Phước Quang, Tuy Phước.

      Các làng nghề cũng hình thành dọc lưu vực sông Côn, trong đó các làng gốm thịnh hành nhất, các di tích làng Gốm ngày nay còn lưu dấu như: Làng Gốm Gò Sành ở Phụ Quang, Nhơn Hoà, An Nhơn; Làng Gốm Trường Cửu, Nhơn Lộc, An Nhơn; Làng Gốm Gò HờiLàng Gốm Cây Ké ở Tây Vinh, Tây Sơn...
 
      Có một làng gốm mà còn nguyên di tích, chưa được khai quật khảo cổ, đang có nguy cơ xói mòn do giòng nước lũ sông Côn xâm thực, đó là di tích làng Gốm Cây Me ở xóm Mỹ Kim, Đại Bình, Nhơn Mỹ, An Nhơn!
      Sau những mùa lũ hằng năm dòng sông Côn chảy qua phần đất giáp ranh từ huyện Tây Sơn đến huyện An Nhơn đã tạo dòng chảy bên lỡ bên bồi. Bên bờ sông phía thị tứ An Thái bối đắp thành dãi cát vàng rộng dài, tạo thuận lợi cho làng nghề, bún Song Thằn làm bãi phơi bún...
 
Bãi cát dùng phơi bún Song Thằn và phơi bánh tráng, bún các loại
của làng nghề bún bánh An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn
 
 
Phía trên bãi cát dân làng  phơi bún bánh
Phía dưới bãi cát thành mỏ...cát thoải mái tận thu!?
 
 
    Còn bên bờ sông Đại Bình xói lỡ hàng năm, ông cha ta nghìn năm đã trồng tre chống xói dọc bờ sông, nhưng nguy cơ sụt lỡ không tránh khỏi nếu không chăm sóc luỹ tre mà chỉ biết chặt tre thu hoạch! Do xói mòn lộ dần phế tích một làng nghề Gốm Cổ:
 
 
Dưới các bụi tre dọc sông Côn ở xóm Mỹ Kim
nước lũ xói lộ dấu tích làng Gốm xưa
 
Mãnh vỡ các loại đồ dùng bằng gốm
Xếp chồng chiều dày trên một mét, dưới mặt đất khoảng hơn mét
 
 
Mãnh vỡ chén tô, dĩa các loại...
 
 
Một mãnh vỡ ...cái tô có màu xanh ngọc, và màu men chàm...
 
Lu, thạp... màu đất nung... hay là những bao nung?
 
 
 
Dấu tích làng Gốm Xưa kéo dài mấy trăm mét dọc sông
 
 
      Chúng tôi ngỡ ngàng trước một dấu tích còn lưu lại một làng nghề Gốm Cổ  một thời hưng thịnh của một Vương Triều! Trên gò làng nghề Gốm Cổ  này còn lại các cây me cổ thụ, nên tục danh gò còn gọi là gò Gốm Cây Me:
 
 
Cây me cổ thụ nằm sát bờ sông Côn có nguy cơ ngã đỗ...vì lũ!
 
 
      Chúng tôi khảo sát cả một khu rộng lớn, nhiều người dân sau cơn lũ, trên đáy sông, hay dọn bờ làm ruộng, hoặc đào lỗ trồng trụ điện...đã nhặt được các vật dụng bằng Gốm Cổ...Dân ai cũng biết đã thấy, nhưng ngại thu...nên không ai  cho xem!?
 
      May sao chúng tôi gặp một em bé nghèo nghỉ học, năm 2008 học hết lớp 10 trường công lập số 2 huyện, không có khả năng theo học dù rằng kết thúc năm học lớp 10 điễm trung bình trên 6, đang chăn mấy con bò! Em đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi đến nhà em để cha em và em cho xem các cổ vật Gốm Cổ mà em đã nhặt được: 
 
Cha con em đã trân trọng gìn giữ cổ vật Gốm Xưa
dù có nhiều người sưu tầm gạ mua, nhưng không bán!
 
 
Bát Gốm Sành xưa...
 
 
Dĩa Gốm Cổ...
 
 
Tô Gốm Cổ....
 
 
Dĩa Gốm Cổ...
 
 
Bình vôi cổ màu xanh ngọc...
 
 
Bình vôi cổ màu nâu đen...mất quai!
 
 
Bình vôi cổ màu ...da lươn?
 
 
Bình vôi cổ màu...da lươn?
 
 
 Ly uống nước cổ...
 
 
Bình vòi rượu và vật dụng giống...ly rượu?
 
 
      Để bảo tồn di tích làng nghề Gốm cổ Cây Me, trung tâm văn hoá huyện, phòng văn hoá thông tin, UBND xã, thôn và ...làm biên bản đề nghị huyện, tỉnh có biện pháp bảo tồn và nghiên cứu làng nghề Gốm Cổ Cây Me lịch sử này!!!
--------------------
 
 
 

KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA BA, NGÀY 26/3/Canh Thìn nhằm ngày 30/4/2000.

langhe | 18 April, 2009 20:00

KỶ NIỆM NGÀY MẤT CỦA BA TÔI

NGÀY 26/3/Canh Thìn

( Ngày 30/4/2000 )

 

      Tôi là con một duy nhất trong gia đình, anh trai tôi mất khi còn bé tí tẹo, Ba  Má còn có một mình tôi nên cưng lắm, hủ mắm treo đầu giàn nhiều bà cụ vẫn thường nói về tôi như thế! 

      Má tôi mất ngày 21/6/Bính Dần nhằm ngày chủ nhật 27/7/1986, lúc Má tôi mất tôi đang ở Sài Gòn, thằng con trai út tôi lúc đó mới sinh chưa đầy 2 tháng tuổi! Vợ tôi lúc ấy còn đi dạy học, ba đứa con còn nhỏ, mọi việc hậu sự má tôi một tay Ba tôi lo cả!

      Ba tôi ở với vợ chồng tôi, ông cụ già rồi không làm gì nhưng là cánh tay phải của vợ chồng tôi, các con tôi đều được ông nội thương yêu chăm sóc. Đến năm 1989, thấy kinh tế vợ chồng công chức của tôi quá khó khăn, Ba tôi cho tiền tôi mua căn nhà nơi trung tâm thị trấn để tìm cách mua bán mà sống nuôi con. Sau khi mua nhà, một năm sau vợ tôi nghỉ dạy để mua bán nhỏ. Đến khi thời kỳ kéo điện về nông thôn thì chuyển sang kinh doanh đồ điện. Sự nghiệp của vợ chồng tôi ngày nay là do phần lớn Ba Má tôi, và phía vợ tôi tạo vốn gây dựng nên. Trước đó học vấn của tôi là một khoảng thời gian dài đầu tư của Ba Má tôi, xuất thân từ bàn tay trắng làm nông tảo tần, dành dụm mà nuôi tôi, trước năm 1975 cho con học đại học tại Sài gòn là cả một sự nhọc nhằn của Ba Má.

 

Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ kính Cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

 

      Ngày mất của Ba, một ngày tôi không thể nào quên. Nhân ngày 30/4/2000, trúng ngày chủ nhật, ngày 01/5/2000 nghỉ ngày thứ 2, nên tôi tổ chức một chuyến đi Sàigòn  theo đường quốc lộ 14, hành trình từ Bình Định đi quốc lộ 19 lên Pleiku, xuôi quốc lộ 14 vào ghé cây số 82 Thuận Mẫn ( Ekleo), vào Ban Mê Thuộc, rồi tiếp đến Bình Dương xuống Sài gòn. Lịch trình đi 3 đến 4 ngày, tôi làm tài xế, lái cái xe nho nhỏ 7 chổ, cùng các bạn đống hành.

      Nguyên do kích thích làm chuyến du lịch này vì : có một thằng bạn tên Đức, khi xưa nó và tôi là những thằng chơi thân, học giỏi, nhưng môn anh văn nó thì tuyệt, hồi đó nó đã nghe đài BBC bằng Anh ngữ. Trước 1975, tốt nghiệp Tú Tài hạng Ưu, trầy trật không đi du học được, Đức học MGP đại học Khoa học, đến 1975 kẹt lý lịch, có vợ, có con, cùng vợ con đi kinh tế mới, lên  Gialai gian nan một thời, sau định cư tại cây số 141 QL 19 Man-dang. Làm rẫy, buồn, điện đóm không có càng buồn, tối không có gì giải khuây vợ chồng Đức làm một lèo 7 đứa con, nheo nhóc; hai vợ chồng làm quần quật nên sau 25 năm mà nó chưa trở lại Sài gòn! Nghe tôi rũ thì Đức Okê liền!

      Tại cây số 82, tôi cũng có thằng bạn thân tên Thành, trước 1975 học sư phạm, sau không được dạy, làm nông, khổ quá đi lên Thuận Mẫn lập nghiệp, ở dọc quốc lộ 14, ngay trung tâm huyện kinh tế mới, vừa làm rẫy cafe vừa kinh doanh nho nhỏ nông sản, rối làm cái quán cafe Nắng Chiều; nên biết hành trình của tôi vợ chồng Thành chuẩn bị bữa ăn rất tươm tất đón bạn. Sau đó vợ chồng Thành cùng con gái út tháp tùng với chúng tôi vào Sài gòn, trước là cùng vui với bạn sau bao năm xa nhau, sau là vào thăm con Thành đang học Bách Khoa và thăm nhà phía vợ Thành tạm trú ở Hóc Môn...

      Chuyến đi đầy kỷ niệm tình bạn, nhưng cũng là chuyến đi định mệnh mà tôi xa cách Ba tôi nghìn trùng!

      Hành trình, sáng 7 giờ ngày 29/4/200 khởi hành từ Bình Định, gồm tôi, anh Trường, Sơn, và em Cảnh, bốn người; đi quốc lộ 19 lên cây số 141 đón Đức, lên Pleiku gặp bạn là Tá, anh Sanh..., quay xuống Đồng Xanh chung vui. Gần 14 giờ từ giã các bạn Pleiku, đi dọc quốc lộ 14 vào cây số 82, ở nhà Thành ăn chiều, đến 17 giờ đi tiếp vào Ban Mê Thuộc, trên xe lúc này là 8 người, gồm 7 người lớn và một con gái út của Thành. Tới Ban Mê Thuộc thăm nhà anh Hai Tấn bà con của anh Trường, đến 23 giờ khởi hành đi Sài Gòn, đến Hóc Môn 6 giờ 30 phút sáng! Lái xe mệt nhưng tôi rất vui, vì ngồi trong xe lâu ngày các bạn hàn huyên không ai ngủ!

      Đến Sài gòn, tranh thủ cùng các bạn đi thăm bạn Vinh. Bạn Vinh dạy toán trường Đại Học kinh tế, Vinh có một vườn lớn ở trên ngã tư Ga, chúng tôi cùng lên kéo lưới cá tai tượng, làm một cuộc nhậu giả chiến tại vườn với món cá Tai tượng chiên xù, bánh mỳ... và uống rượu cần do tôi mua ở Đồng Xanh mang vào. Thật là cuộc tao ngộ lý thú sau những năm bạn bè xa cách...

      Đến chiều tôi cùng Đức về nhà tôi ở phường 6 Tân Bình, lúc đó chỉ còn có Đức là còn ở nhà tôi, còn các bạn khác đều đi thăm con, hay thăm bà con anh em.

      Khoảng gần 20 giờ ngày 30/4/2000, tôi cùng Đức và hai con tôi chuẩn bị đi thăm các bạn, thì điện thoại ở nhà vào báo tin sét đánh, Ba tôi mất!

      Thật là đau thương vô cùng! Khi tôi ra đi thì Ba tôi còn mạnh khoẻ, tuy rằng ông cụ to ngưởi ( nặng 85 kg ), đôi lúc có cao huyết áp, trong nhà lúc nào cũng có thuốc cho cụ. Nhưng Ba tôi mất đột ngột quá! Ăn tối xong ông cụ ra ngồi trên chiếc ghế dựa bằng nhựa trước nhà hóng mát, bị nhồi máu cơ tim nhanh quá không kịp, Ba tôi mất trong tư thế ngồi dựa ghế! Ba tôi ra đi trong giờ phút không có tôi ở bên, đó là nỗi đau không nguôi trong tôi! Bảy mươi  sáu năm sống trên đời Ba tôi chưa được con cháu phụng dưỡng bao ngày, mà đã ra đi!!!

      Đau khổ vô cùng, tôi bủn rủn tay chân, cố gắng điện cho Sơn biết để mà cùng tôi lái xe trở về. Khi ấy máy di động còn ít nên khó liên lạc, tôi phải đánh xe đi tìm Sơn, vì lúc ấy không có phương tiện nào trở về nhanh nhất bằng chiếc xe của mình hiện có! Rất may tìm được Sơn, 22 giờ chúng tôi gồm tôi, Đức, Sơn và 2 con tôi quay về Bình Định! Tôi mơ màng nước mắt rơi, lái xe chạy rất nhanh, lúc đó chưa bắn tốc độ, và công an giao thông đứng đường còn ít , chứ không chắc chắn bị phạt rồi! Đến 1 giờ sáng tới Phan Rí, tôi hoàn toàn mệt mỏi, vừa khóc vừa run không thể nào lái nổi! Sơn phải thay tôi lái xe, Sơn mới lấy bằng lái xong nên chạy rất chậm, đến gấn 11 giờ trưa 01/5/2000 chúng tôi mới về tới nhà!

      Ba ơi! Ba đã ra đi! Vĩnh viễn Ba ra đi! Ba nằm trong áo quan mà lòng tôi đau nhói! Chỉ kịp nhìn mặt Ba qua lớp kiếng trên nắp quan tài! Đau lắm Ba ơi!...

      Chỉ chờ tôi về gặp mặt Ba lần cuối, đoàn tang lễ của xóm khối phố đã chuẩn bị sẳn làm lễ để di quan! Ba tôi được hạ rộng an táng vào lúc hơn 13 giờ ngày 01/5/2000 tại nghĩa trang thị trấn Bình Định!

 

 

Ngôi mộ Ba tôi ( nhìn thẳng )

 

Ngôi mộ Ba tôi ( nhìn bên hông )

 

      Việc hậu sự cho Ba tôi một tay vợ tôi lo lắng chu toàn, trong đó có sự góp sức lớn lao của ông anh con ông Bác, và bà con hàng xóm, cùng các bạn bè của tôi và của vợ tôi. Vì ngày lễ nên cơ quan tôi ít người biết, chỉ số thân thiết mới có mặt.

      Ngày mất của Ba tôi cũng là ngày mất của ông Phạm Văn Đồng, bác Đồng mất sau Ba tôi khoảng hai giờ. Ngày 30/4/2000, ngày mà tôi nhớ mãi Ba tôi ra đi vĩnh viễn trong cõi đời này!

      Hôm nay để kỷ niệm 9 năm ngày mất của Ba tôi, gia đình tôi  chuẩn bị ngày giỗ Ba thật chu đáo vào ngày 25/3/ Âm lịch( phong tục miền Trung - Bình Định giỗ ngày Ba tôi còn sống ), chúng tôi đã trang hoàng nơi thờ tự ấm cúng theo đúng truyền thồng của người Việt Nam:

 

Nơi thờ Tổ Tiên và Ba Má của gia đình tôi

 

Ngày giỗ ở Bình Định không thể thiếu món bánh ít lá gai.

 

      Người Việt Nam có phong tục thờ cúng Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ... rất hay, là một truyền thống văn hoá tốt đẹp tích lũy hàng ngàn năm, thế hệ tôi và các con tôi cũng mong sao giữ trọn vẹn tập quán thờ phụng này. Đó là nếp nhà mà các tế bào gia đình cần gìn giữ, bảo tồn ...

      Cảm ơn các bạn đã xem và đồng cảm cùng tôi trong kỷ niệm ngày tôi mất Ba, và ngày giỗ Ba tôi! Trân trọng.

                                                                                                                 Ha Nguyen

____________

 

 

 

 

 

LÀNG NGHỀ TRỒNG MAI Ở HUYỆN AN NHƠN

langhe | 17 April, 2009 05:00

LÀNG NGHỀ TRỒNG MAI Ở HUYỆN AN NHƠN
 
HÔM NAY 16/4/2009

THẨM ĐỊNH ĐỂ CÔNG NHẬN
3 LÀNG NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHUYÊN CANH ĐẦU TIÊN
CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
 
- LÀNG NGHỀ MAI CẢNH HÁO ĐỨC
- LÀNG NGHỀ MAI CẢNH THANH LIÊM
- LÀNG NGHỀ MAI CẢNH THUẬN THÁI
 -----------------
 

 
      Huyện An Nhơn là một huyện có nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng nghề chuyên canh làm vườn cũng rất phát triển, trong đó phải nói đến nghề trồng mai cảnh. Thời kỳ bao cấp nghề này chưa phát triển, nhưng trong một số gia đình đã manh mối trồng cây cảnh trong đó có cây mai.
 
      Ở thôn Háo Đức, xã Nhơn An, nông dân sống thành quần cư dọc theo một dòng sông nhỏ. Thời phong kiến có nghề tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng một thời là cẩn xa cừ đồ thờ như câu đối, hoành phi, bình sơn - tam phong...., nhưng trong chiến tranh nghề này chỉ còn vài gia đình sản xuất, đến sau 30/4/1975 do kinh tế khó khăn bao cấp nên mất hẳn nghề! Dân chỉ biết sống dựa vào vài  công ruộng của cánh đồng sau các xóm, hay trong vườn trồng chuối, chanh, ổi... thu nhập không bao nhiêu. Nhiều lao động chính trong thôn phải đi làm nghề phương xa, ở nhà  còn lại người già và phụ nữ chỉ loay quay nuôi vài con heo, gà, trồng mấy luống rau... thế mà cuộc sống vẫn không có dư!

      Khoảng năm 1980 có ông Đặng Xuân Lang một cán bộ tập kết  về hưu,trồng vài cây mai để chơi, thấy giống mai có hoa đẹp thoang thoảng mùi thơm ( giống mai hương ) ông lấy hột nhân trồng nhiều chậu, và cho hạt cho các nhà chung quanh trồng. Anh Đặng Xuân Sự là con trai của ông, thấy cha trồng cũng tham gia và thử uốn tạo dáng cây cảnh. Không ngờ khoảng 5 năm sau, những cây mai tạo dáng cảnh trong dịp đóng Tết đã được nhiều người hỏi mua. Anh Sự cùng anh ruột là Đặng Xuân Hoàng và cụ Lang phát triển trồng nhiều hơn. Đến sau năm 1990 lần đầu tiên vườn mai của anh Sự bán được trên 25 triệu đồng. Thời giá lúc đó là quá lớn mà các hộ làm nông khó mà có được! Tiếng lành đồn ra, các hộ chung quanh phá bỏ vườn chuối, vườn chanh... và bắt đầu trồng mai cảnh. Đặc biệt là nhờ gần dòng nước mát của con sông nhỏ, các hộ lấy nước tưới mai, và nhờ đất phù sa của các đám soi đem trồng... mà cây mai Háo Đức chỉ cần 2 năm tuổi là có thể bán Tết được!
 
 
Nhà từ đường họ Đặng, nơi thờ ông Đặng Xuân Lang,
cũng là vườn mai cảnh đầu tiên
 
      Trải qua trên 20 năm trồng mai, mai làng Háo Đức  phát tiển mạnh, nhiều giống mới du nhập như : mai giảo, mai cúc, mai đọt xanh, huỳnh mai. Khách hàng cả nước tìm đến tiêu thụ, từ đó các thôn lân cận cũng trồng và phát triển mạnh, như thôn Thanh Liêm, thôn Thuận Thái, thôn Trung Định....của xã Nhơn An; và rất nhiều xóm thôn của các xã trong huyện An Nhơn trồng đại trà. Cứ mỗi năm đón Tết, khoảng từ mồng 10 tháng chạp trở đi, ai đi qua huyện An Nhơn dọc quốc lộ 1A, cả rừng mai cảnh chào đón khách quý mua về chơi Xuân!
 
Mai cảnh Xuân chờ Tết
 
 
      Để cây mai cảnh có thương hiệu, trước tiên thành lập làng nghề. Đầu tiên chọn 3 thôn trồng mai nhiều nhất là thôn Háo Đức, thôn Thanh Liêm, thôn Thuận Thái thành lập làng nghề Mai Cảnh chuyên trồng mai. Trong xã Nhơn An đã hình thành Hội sinh vật cảnh, trong đó được Hội Sinh Vật Cảnh tỉnh Bình Định công nhận 2 nghệ nhân trồng mai là ông Đổ văn Khoa ở Háo Đức và ông Nguyễn Trí Dũng ở thôn Thuận Thái, đây là nhân tố để nhân rộng nghệ nhân và thúc đẩy kích thích tay nghề.
 
Ông Thôn trường thôn Háo Đức, và ông nghệ nhân mai cảnh Đỗ Văn Khoa
chụp hình tại trụ sở thôn Háo Đức
 
 
LÀNG NGHỀ MAI CẢNH HÁO ĐỨC
 
      Làng nghề Mai Cảnh Háo Đức có 429 hộ dân, trong đó có 397 hộ dân có trồng mai cảnh. Có hộ trồng đến 10.000 cây mai như ông Lê Văn Phú, hay có ông  Nguyễn Trường Hào trồng khoảng 3.000 cây trên diện tích 1.500 mét vuông nhưng doanh thu trong dịp Tết Ất Sửu trên 900 triệu đồng với lãi ròng trên 300 triệu đồng:
 
 
 
Vườn mai  Trường Hào của ông Nguyễn Trường Hào ( đội mũ lưỡi trai)
Đoàn thẫm định làng nghề trồng mai
 
 
 
 Trồng mai cảnh lợi nhuận cao hơn trồng lúa
 
 
 
 Vườn mai cảnh bát ngát
 
 
Nhà nhà, vườn vườn trồng mai cảnh
 
 
Mai cảnh trù phú, đình miễu thờ khang trang
( Phú quý sinh lễ nghĩa )
 
 
Cây tre chủ lực trong các cây dùng chống uốn cành mai
 
 
Công việc trồng mai cảnh kéo theo nhiều lao động tham gia
 
 
VÀI HÌNH ẢNH VỀ VƯỜN MAI CẢNH TRƯỜNG HÀO
Ở LÀNG MAI CẢNH HÁO ĐỨC
 

 Hai hàng mai cảnh đã vào chậu có giá từ 5 triệu đồng/1 chậu trở lên
 
 
 
Chậu mai cảnh này trên 15 triệu đồng
bên phải là cọc tre dùng cắm uốn mai
 
 
 
Chậu mai cảnh này có giá trên 50 triệu đồng!
 
 
 
Chậu này cũng được chủ Trường Hào báo giá 50 triệu đồng!
 
 
 
Chậu mai mini này để bàn có giá 5 triệu đồng!
 
 
 
Chậu mai cảnh đẹp này cũng được báo giá 50 triệu đồng
 
 
 
Hội đồng đang lấy số liệu của ông Trường Hào ( đội mũ)
 
 
 
LÀNG NGHỀ MAI CẢNH THANH LIÊM
 
      Làng nghề mai cảnh Thanh Liêm có 372 hộ dân, trong đó có 124 hộ trồng mai cảnh, trong đó hộ ông Nguyễn Trí Tuấn trồng trên 4.000 cây mai cảnh trên diện tích 3.200 mét vuông. Trong dịp Tết Kỷ Sửu ông Tuấn bán trên 300 cây mai cảnh lớn, doanh thu 250 triệu đồng, lợi nhuận 150 triệu đồng. Vườn nhà ông Nguyễn Trí Tuấn nuôi từ mai con cho đến lớn mới bán nên tỷ suất lợi nhuận cao, tuy rằng doanh số thấp hơn vườn nhà ông Trường Hào ( vì ông Hào có mua tuyển mai lớn về chăm sóc rối bán lại ).
 
Dưới đây là một số hình ảnh vườn mai cảnh nhà ông Nguyễn Trí Tuấn
 
 

 Mai ươn hột nuôi chăm sóc từ cây bé!
 
 
 
Ông Nguyễn Trí Tuân bên cây mai 10 triệu đồng.Đất phù sa trộn với vụn sơ dừa và vỏ đậu phộng!
 
 
 

 Hàng chậu mai cảnh đang được chăm rất kỹ của ông Tuấn
 
 
 

 Công sức của nghệ nhân chăm mai từng...ngày!
 
 
 
Trao đổi thẫm định số liệu làng nghề mai cảnh Thanh Liêm
 
 
 

 Lúa và mai cùng nuôi sống người nông dân làng mai Thanh Liêm
 
 
 
Trụ sở thôn Thanh Liêm, ông chủ tịch Hội sinh vật cảnh xã và ông thôn trưởng
 
 
 

 Cây sung mini trong vườn mai
 
 
Đây là quả sung của cây sung mini
Thú chơi cây sung của chủ nhân để cầu sung túc
 
 
 
 
LÀNG NGHỀ MAI CẢNH THUẬN THÁI
 
      Làng nghề mai cảnh Thuận Thái có 304 hộ dân, trong đó có 180 hộ dân có trồng mai cảnh. Làng mai cảnh Thuận Thái tuy mới thịnh hành trên 10 năm, nhưng tốc độ phát triển có nhiều triển vọng, trong đó có ông Sáu Hồng một thợ điện nhưng về làm vườn mai cảnh vì có thu nhập ổn định và cao hơn làm nghề điện! :
 
 
 
 Vườn mai cảnh của ông Sáu Hồng
 
 

 Ông Sáu Hồng và cây mai cảnh trên 22 năm
 
 
Trụ sở thôn Thuận Thái, ông Khoa và ông thôn trưởng thôn Thuận Thái
 
 
 
Làm ruộng và sản xuất chậu kiểng trồng mai tăng thu nhập
 
 
Con trâu kéo xe chở rơm trong mùa gặt
trong mùa bán mai cảnh, con trâu chở mai, chở đất
 
 
 
Nhà dân nông thôn nhờ có nghề phụ (mà chính) nay dần khang trang!
 
 
Ông Bí thư xã Trần Kim Hùng nghĩ hưu, về vườn...vui thú trồng mai!
Dân vạn đại, cùng làng nghề mà phát triển
 
 
 
Không quên trong vườn cũng phải có cây sung cho nó...sung!
 
___________________
 
 
 
ĐOÀN THẪM ĐỊNH LÀNG NGHỀ MAI CẢNH
 
 
Bàn về các tiêu chí để xét công nhận làng nghề mai cảnh
 
 
Sau một buổi làm việc nghiêm túc,
kết thúc biên bản đề nghị công nhận 3 làng đạt làng nghề mai cảnh
 
____-----------____
 
       Quê hương tôi, đất An Nhơn, kinh thành xưa của thời Chiêm Thành ( Thành Đồ Bàn ), của thời Tây Sơn ( Thành Hoàng Đế ), có nhiều làng nghề. Chúng tôi xin được hân hạnh giới thiệu làng nghề quê tôi, làng nghề của các địa phương khác trong cả nước, cảnh đẹp và di tích đất Việt. Từ dân dã này sẽ làm chúng ta thương yêu đất nước và con người Việt Nam ta! Mong trao đổi thông tin cùng quí vị về chủ đề này! Trân trọng cảm ơn!
 

GIỖ TỔ NGHỀ ĐÚC KIM LOẠI Ở LÀNG NGHỀ ĐÚC BẰNG CHÂU, THỊ TRẤN ĐẬP ĐÁ, HUYỆN AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

langhe | 11 April, 2009 21:00

LỄ GIỖ TỔ

NGHỀ ĐÚC KIM LOẠI

TẠI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG ĐÚC BẰNG CHÂU

THỊ TRẤN ĐẬP ĐÁ, AN NHƠN, BÌNH ĐỊNH

 

 

  Nghề đúc kim loại du nhập vào đất An Nhơn lâu đời, nhưng thịnh hành phát triển nhất phải nói đến thời Tây Sơn.

Sau khi đánh thắng Chúa Nguyễn, Nguyễn Nhạc anh cả của Tây Sơn Tam Kiệt lên ngôi Hoàng Đế, lấy mặt bằng Thành Đồ Bàn mà mở rộng xây đắp hoàn thiện thành Thành Hoàng Đế. Thành Hoàng Đế nằm ở vị trí xã Nhơn Hậu và xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn ngày nay. Do đó ngành nghề tiểu thủ công các khu dân cư quanh Thành phát triển, An Nhơn chiếm đa số ngành nghề, trong đó ngành đúc kim loại phát triển rực rở.

Bằng Châu, xưa là một thôn của xã Đập Đá. Từ khi Đập Đá lên thị trấn thì Bằng Châu được gọi là Khu vực Bằng Châu. Đi quốc lộ 1A ngang qua Đập Đá, nếu đi từ Sài Gòn ra Bắc, thì khi qua cầu Đập Đá khu vực Bằng Châu nằm bên tay phải trãi dài đến cánh đồng trước trường phổ thông cơ sở cấp II thị trấn Đập Đá.

Nghề đúc Kim loại tại Bằng Châu có lâu đời trên 200 năm, hôm nay ngày 17/3/âm lịch nhằm ngày 11/4/2009 dân làng nghể tổ chức lễ giỗ Tổ. Để quí khách tường tận, langhe xin copy Văn Tế Tổ Nghề đúc Kim loại của dân làng nghề Bằng Châu như sau:

 

 

 

VĂN TẾ TỔ  NGHỀ ĐÚC KIM LOẠI

GIỖ TỔ NGÀY 17 THÁNG 3 KỶ SỬU ( 14/4/2009)

Tại Khu vực Bằng Châu

*********

 

 

Hoâm nay ngaøy 17 thaùng 3 naêm Kyû Söûu, nhaèm ngaøy 11/4/2009

Naêm thöù 64 Nöôùc coäng hoøa xaõ hoäi chuû nghóa Vieät Nam

Taïi khu vaên hoùa Baèng Chaâu, thò traán Ñaäp Ñaù, huyeän An Nhôn, tænh Bình Ñònh

Chaùnh teá : TRAÀN NEÙO - Thôï ñuùc laõo thaønh

Hieäp cuøng : - Taû phaân hieán : Nguyeãn Thanh Döông

 -  Hữu phân hiến : Nguyễn Bảo Trung

Vaâng meänh taäp theå, giaø, treû, gaùi, trai - nhöõng ngöôøi thôï ñuùc daân laøng Baèng Chaâu, Ñaäp Ñaù.

Kính caån quyø taâu :

Nhaân ngaøy 17 thaùng 3 haøng naêm gioã Thaùnh Toå ngheà ñuùc kim loaïi truyeàn thoáng laøng Baèng Chaâu, thò traán Ñaäp Ñaù.

Theo leä coå

Saém sanh leã phaåm : Höông, ñaêng, traø, hoa, quaû, maâm coã traûi baøn.

Tröôùc aùn : - Khoâng Loä Thaùnh toå ngheà ñuùc kim loaïi Vieät Nam

                   - Tieân sö ngheà ñuùc Baèng Chaâu

                   - Tieàn hieàn, chö vò Toân linh

                   - Taû chieâu höõu muïc tieân linh

Troäm nghó raèng :

              - Höôûng gaïo thôm, caàn nhôù coâng lam luõ

              - Uoáng nöôùc trong, phaûi nhôù gieáng laønh

              - Ngöôøi sinh höôûng khí ñaát trôøi, chung cuøng ñaïo lyù

Toân sö troïng ñaïo - Uoáng nöôùc nhôù nguoàn, bieát ôn sö Toå, Tieân sö, xuaát phaùt töï taâm linh.

Kính nghó raèng  : Toå sö ngheà ñuùc kim loaïi laø Thaùnh Taêng Khoâng Loä, teân thaät Nguyeãn Chí Thaønh, Ngaøi khôûi nghieäp ñucù ñaïi töù khí hieän coøn vang danh.

Thaùnh toå ñaõ truyeàn daïy ngheà ñaàu tieân taïi Nam Ñònh

Haäu dueä Ngaøi ñaõ thaønh danh nhöõng ngheä nhaân ñò khaép nôi, ra Baéc vaøo Nam, truyeàn daïy ngheà khaép xöù.

Laøng Baèng Chaâu ta coù ngöôøi thôï ñuùc laø Nguyeãn Thieän

Töø Nam Ñònh, laäp aáp taïi ñaây ñaõ laøm ngheà ñuùc kim loaïi

Hôn hai traêm maêm tröôùc, ñaõ truyeàn daïy ngheà quyù cho  dan laøng, noái ñôøi ñeán nay.

 

Traûi bao thaêng traàm lòch söû

Tieàn nhaân ta ñaõ vöõng tay cheøo laùi

Caây ñaïi thuï beàn goác, thaém laù, töôi caønh

Haäu theá nhieàu beà tieán boä

Sö Toå, Sö Tieân muoân thuôû hieån vinh

 

CUÙI NGHÓ

 

                   Vöøng nhaät nguyeät möôøi phöông raïng rôõ

                   Ñöùc Toå sö, Tieân sö coâng ñöùc saùng ngôøi

                   Ngöôõng mong phuùc aâm noái ñôøi

                   Moân sinh teá Toå, Toå veà Baèng Chaâu

                             Lôùp haäu sinh neùn nhang kính baùi

                             Dòp thaùng ba, möôøi baûy hoâm nay

                             Ñoàng taâm thieát leã Chieâu nghinh

                             Linh thieân Thaàn vò Toå sö hieän veà

                             Cuøng Tieân sö, Tieàn hieàn chö vò

                             Mau khai quang taåy ueá thaàn thoâng

                                      Leã möøng Gioã Toå hoâm nay

                                      Caû laøng moân ñeä toû baøy tri aân

                                      Laäp ñaøn baùi voïng coã chay

                                      Mong raèng Sö toå giaùng ngay aùn tieàn

                             Ñoä trì, phoø hoä chôû che

                             Coäi beàn, laù thaém, choài xinh hoa laønh

                                      Caàu Sö toå anh linh phoø hoä

                                      Dìu moân sinh tieán boä, tröôûng thaønh

                             Treû, giaø, trai, gaùi neân danh

                             Nhaø nhaø no aám, ngheà laønh tieán mau

                   Buoåi sô khai, moät ngoâi Sö toå

                   Khi veà laøng chæ moät Tieân sö  

                             Giôø ñaây laøng noï xöù kia

                             Nhaø nhaø ngheà quyù, chaúng thua keùm naøo

                             Lôùp haäu sinh noái ngheà maõi maõi

                             AÊn quaû ngon, nhôù keû troàng caây

                             Ngheà ta thaày daïy vuoâng troøn

                             Phaûi neân ghi nhôù, saét son trong long

                             Nhaø nhaø quyeát daïy chaùu con

                   "Toân sö troïng ñaïo - Nöôùc ngon nhôù nguoàn"

                   Cuøng ngheà nghieäp, cuøng chung moät Toå

                   Keát ñoaøn nhau thuaän döôùi hoøa treân

                   Thaùi hoøa "Baùch nhaãn laøm neân"

                   Xuaân hoài hoa thaém non soâng ñeïp maøu

                             Nay leã hoäi baùi daâng Sö Toå

                             Cuøng Tieân sö, chö vò Tieàn hieàn

                             Taû chieâu, höõu muïc theo laøng

                             Tinh anh hoäi tuï laøng Baèng Chaâu môøi veà

                   Tuy neùn nhang ñôn sô leã moïn

                   Roõ loøng thaønh linh hieån xeùt soi

                   Nguyeän caàu töù phuû vaïn linh

                   Thaäp phöông tam baûo Toå Sö ñoä trì.

     

 Caån caùo !

 

 Đọc văn tế cúng Tổ nghề Đúc kim loại

 

 

Chánh tế : TRẦN NÉO đang khấn lễ

 

 

Nghi thức lễ truyền thống

 

 

Thành kính lạy dâng  lễ cúng Tổ

 

 

Đội tế lể nam

 

 

CHƯƠNG TRÌNH CHÀO MỪNG 

LỄ GIỖ TỔ NGHỀ ĐÚC

 

 

Ông Nguyễn Văn Ngọc đọc diễn văn khai mạc lễ giỗ Tổ Thánh nghề đúc

 

 

Ông Nguyễn Văn Thắng Phó Giám đốc Sở Công Thương

đọc diễn văn chào mừng

 

 

 Múa trống chào mừng

 

 

Nghệ sĩ THANH SƠN múa đánh trống trận Tây Sơn

 

 

Võ sinh nam múa quyền cổ truyền

 

 

Một thế bài quyền

 

 

Múa kiếm

 

 

Nam thiếu nhi múa quyền

 

 

Một thế quyền

 

 

Ai về Bình Định mà coi

Con gái Bình Định múa roi đi quyền

 

 

 Chàng ơi! đừng có đánh em

Bí truyền thế võ hãy xem đây nè!

 

 

CÁC QUAN KHÁCH 

THAM DỰ LỄ GIỖ TỔ NGHỀ ĐÚC KIM LOẠI BẰNG CHÂU

 

 

 

 

Có cả khách người nước ngoài đến dự lễ

 

 

Các vị lão thành nghề đúc và các vị võ sư

 

 

Ông Nguyễn văn Tô ( nguyên chủ nhiệm HTX đúc Bằng Châu ) -

Ông Lý Xuân Hỷ ( Võ Sư võ cổ truyền) -

Ông Nguyễn Văn Ngọc ( Chủ tịch Hiệp Hội Đúc Kim loại )

 

 

Cô Nguyễn Nga ( con gái làng đúc Bằng Châu ) -

Ông Nguyễn Văn Thắng ( Phó Giám đốc Sở Công Thương Bình Định )

 

 

Cụ Bà 95 tuổi lão làng nghề Đúc - Ông Nguyễn Văn Ngọc

và quan khách cùng dân làng nghề Bằng Châu

 

 

Quan khách ở Tỉnh dâng hương lễ Tổ nghề Đúc Kim loại

 

 

Quan khách Huyện & Thị trấn dâng hương lễ Tổ

 

 

Các cháu nhi đồng làng nghề

mang hoa chúc mừng khách quý về dự lễ Tổ

 

 

 Đài truyền hình Bình Định tác nghiệp đưa tin

 

 

 

PHONG TỤC ĐẤT BÌNH ĐỊNH TRONG LỄ HỘI

KHÔNG THỂ THIẾU HÁT TUỒNG

 

Đoàn Tuồng Đào Tấn đang trình diễn

 

 

Tinh thần thể thao không thể thiếu trong lễ hội

Đội thanh niên công an huyện thi đấu với đội thanh niên làng nghề đúc

 

 

 

_____________________

 

Cảm ơn Ban lễ hội Làng Nghề Đúc Kim loại Bằng Châu, thị trấn Đập Đá đã cung cấp Văn Tế Giỗ Tổ Nghề Đúc, và tạo điều kiện để hình thành trang nhật ký lễ Tổ nghề Đúc Kim Loại làng nghề Bằng Châu này.

 

Cảm ơn quý bạn đã quan tâm tìm hiểu lễ hội truyền thống Giỗ Tổ Nghề Đúc Kim Loại làng nghề đúc Bằng Châu

 

Trân trọng cảm ơn!

 

--------------------------------------







 

 

 

NHỮNG BÀI HỌC TỪ NGHỀ ĐÚC ĐỒNG Ở Ý YÊN, NAM ĐỊNH

langhe | 10 April, 2009 05:00

NGHỀ ĐÚC ĐỒNG TRUYỀN THỐNG

TẠI THỊ TRẤN LÂM, Ý YÊN, NAM ĐỊNH

 

Tham dự lễ hội làng nghề truyền thống đúc Tống Xá, cũng là cái dịp để chúng tôi thăm quan nghề đúc đồng và chạm khảm tam khí tại các cơ sở, doanh nghiệp đúc ở thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

 

Quan khách đến thành phố Ninh Bình, theo đường quốc lộ 10, qua cầu Non Nước-Ninh Bình là bước chân vào đất tỉnh Nam Định, từ cầu đi hướng Nam Định khoảng 7 km gặp ngã ba có bảng chỉ dẫn thị trấn Lâm-huyện Ý Yên, rẻ trái đi khoảng 3 km là đến trung tâm thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đoạn đường này có một mùi đặc trưng khó quên là mùi tre ngâm dọc con kênh ven đường, vì dân ven đường là vệ tinh sản xuất các sản phẫm tiểu thủ công bằng tre sơn mài như dĩa, khay, lọ cắm hoa, lục bình lớn...các sản phẫm bằng tre này nổi tiếng, được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới!

 

Bước chân đầu tiên quan khách vào thị trấn Lâm là cụm công nghiệp nằm bên tay trái, với các nhà xưởng và gian hàng trưng bày các sản phẫm đúc dồng, gian hàng đầu tiên là gian rộng 10 mét sâu hơn 20 mét của nghệ nhân Dương Bá Phong, tiếp đến là gian hàng rộng 10 mét của Nghệ nhân bàn tay vàng Vũ Như Thuấn, tiếp tục là dãy dài những cửa hàng đồ đồng, các sản phẫm bằng đồng giả cổ chạm khảm tam khí, hay hoành phi, tranh cảnh rất ấn tượng, rất đẹp dùng cho trang trí nội thất gian thờ hay gian khách!

 

Cửa hàng đồ đồng Dương Bá Phong

trưng bày đủ loại đồ đồng, chủ lực là độc lư ...chạm khảm tam khí

 

 Gian hàng giới thiệu sản phẫm đúc đồng

của Nghệ nhân Bàn tay vàng Vũ Duy Thuấn

chuyên về tượng đồng

 

Tại thị trấn Lâm, hay làng Tống Xá, Yên Xá, huyện Ý Yên rất nhiều cơ sở, doanh nghiệp, công ty đúc! Nhưng chúng tôi vì thời gian có hạn không thăm quan hết nên chỉ giới thiệu vài cơ sở đúc có tay nghề cao.

 

 CƠ SỞ ĐÚC ĐỒNG DƯƠNG BÁ PHONG

 

Nghệ nhân Dương Bá Phong tuy còn trẻ nhưng vào nghề đúc khá lâu, ngoài gian hàng trưng bày kinh doanh đồ đồng như trên, anh còn có các nhà xưởng lớn chuyên đúc và sản xuất các mặt hàng đồ đồng theo đơn hàng, sản phẫm của cơ sở anh chúng tôi có nhận xét là chuyên về các loại độc lư, bình hoa, tượng nhỏ... chạm khảm tam khí ( khảm trên đồ đồng các hoa văn hình ảnh bằng bạc, đồng đỏ hay bằng vàng...gọi là chạm khảm tam khí) giả cổ rất tinh tế và rất đẹp. Xin có vài hình ảnh sau:

 

Bộ lư trúc rất đẹp

 

Độc lư thất lân sắc sảo tinh tế, nét chạm khảm rất đẹp

 

Tượng Phật Di-Lặc rất độc đáo

Phía dưới là trống đồng phóng tác trống đồng Đông Sơn

 

 Tượng Phật Bà Quan Thế Âm

 

Một chiếc bình bằng đồng đang chạm khảm

 

Một thân độc lư trong gian đoạn tinh chế

 

Hai pho tượng Trần Quốc Tuấn chạm khảm xong, chờ xông màu giả cổ

 

Thân độc lư đang làm nguội

 

Bình hoa chạm khảm xong được đánh bóng

 

 

DOANH NGHIỆP ĐÚC ĐỒNG

CỦA NGHỆ NHÂN BÀN TAY VÀNG VŨ DUY THUẤN

 

Chúng tôi gặp được anh Vũ Duy Thuấn, anh vừa mới từ chùa Bái Đính ở Ninh Bình mới vừa về ( anh đang thi công lắp ráp tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay ). Như trên đã giới thiệu gian hàng trưng bày của anh Vũ Duy Thuấn chủ lực là tượng, chỉ cần ba tấm hình chụp chân dung ở ba vị trí khác nhau thì Hội Mỹ Thuật sẽ sáng tác cung cấp cho anh một bức tượng thạch cao, để từ đó anh Thuấn làm khuôn, và đúc đồng tạo nên tượng đồng chân dung theo đúng đơn đặc hàng! Xin thăm quan gian hàng và xưởng đúc của vợ chồng anh Vũ Duy Thuấn:

 

 Tượng Hoàng Đế Quang Trung đang khảm bạc

nét đúc hoàn mỹ, nét chạm khảm tinh tế

 

Nghệ Nhân Bàn Tay Vàng Vũ Duy Thuấn và Langhe

bên bước tượng Hoàng Đế Quang Trung do chính chủ nhân đúc

 

 Ông Bùi Văn Luyến và Ông Nguyễn Đức Ngọc

trong sân xưởng đúc của nghệ nhân Bàn tay vàng Vũ Duy Thuấn

 

 Một pho tượng trong giai đoạn làm khuôn

 

Một pho tượng đồng đang hoàn chỉnh

 

Langhe-Vũ Duy Thuấn-vợ ông Thuấn-Nguyễn Đức Ngọc

Phía sau xa xa là hai phôi tượng La Hán đã đúc cho chùa Bái Đính

 

 

Xin giới thiệu về các sản phẫm đúc đồng nổi tiếng của nghệ nhân Bàn tay Vàng Vũ Duy Thuấn ở Chùa Bái Đính tỉnh Ninh Bình. Hiên nay Chùa Bái Đính có các kiệt tác :

 

 Phật Thích Ca Mâu Ni

Tượng đồng, nặng 100 tấn, lớn nhất Việt Nam

đặt tại Điện Pháp Chủ, chùa Bái Đính mới, tỉnh Ninh Bình

 

 Ba pho Tượng Tam Thế Phật, mỗi tượng nặng 50 tấn

đặt ở Điện Tam Thế, chùa Bái Đính mới, tỉnh Ninh Bình

 

 Tượng La Hán, đặt tại Điện Pháp Chủ

Chùa Bái Đính mới, tỉnh Ninh Bình

 

Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay

đang trong giai đoạn lắp tại chùa Bái đính, tỉnh Ninh Bình

 

 Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay

phía sau là Điện Pháp Chủ, chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình

 

  

 

Xe cẩu đang lắp đế sen của tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay

tại chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình

 

THĂM MỘT CƠ SỞ ĐÚC ĐỒNG NHỎ

 

Trước khi lên xe trở về Bình Định, chúng tôi được ông Nguyễn Văn Từ một hai kéo thăm quan một cơ sở đúc đồng nhỏ, sản xuất theo dạng gia đình, nhưng sản phẫm của họ không thua kém các cơ sở to lớn:

 

 Ông Nguyễn văn Từ phó giám đốc Cty TNHH Hải Yến

một lão làng trong công nghệ đúc thép, gang

hướng dẫn đến thăm cơ sở đúc đồng nhỏ ( phía sau lưng ông)

bên hồ Tống Xá

 

 Chủ cơ sở tiếp chúng tôi nhất nhiệt tình, cởi mở

 

 Độc lư thất lân của cơ sở sản xuất rất đẹp

 

 Chiếc lư không khảm tam khí, được đánh bóng rất tinh tế

 

Tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

 

Các sản phẫm đúc đồng đang chuẩn bị giao cho khách

 

Ông Nguyễn Đức Ngọc làng nghề đúc Bằng Châu, Đập Đá, Bình Định

thích thú ghi chép và quan hệ hợp tác

 

 Xưởng đúc đồng truyền thống của làng nghề Tống Xá

 

Các chi tiết đúc của một chiếc độc lư đồng

 

Một độc lư đồng đang đúc ráp chân

 

Thân một độc lư đang lắp ráp và mài tinh chế

 

NHỮNG BÀI HỌC TỪ CHUYẾN THĂM QUAN

NGHỀ ĐÚC ĐỒNG, CHẠM KHẢM TAM KHÍ TRÊN ĐỒNG

 

Qua chuyến thăm quan, chúng tôi có những việc cần học như sau:

- Tay nghề đúc truyền thống của dân làng Tống Xá, hay thị trấn Lâm, Ý Yên, Nam Định rất điêu luyện. Do trong thời gian dài từ năm 1986 đến nay sản xuất đa dạng sản phẫm.

- Người làng nghề nhiệt tình, tiếp thu kiến thức mới, và biết uyển chuyển trong các nghề mới như chạm khảm tam khí, gò đồng, nhuộm màu giả cổ... để sáng tạo ra sản phẫm mới độc đáo.

- Nghệ nhân đúc đồng Ý Yên mạnh dạn học tập đầu tư công nghệ, máy, thiết bị để sáng tạo, đúc nên các sản phẫm có trọng lượng lớn như Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, Tượng Phật Bà nghìn tay nghìn mắt ở chùa Bái Đính...

- Nghệ nhân đúc phải có mối liên kết tạo hình với các nhà Mỹ thuật, để sáng tạo tượng, để có các sảm phẫm có hồn, và có cái mới mà đúc sáng tạo...

- Nghề chạm khảm tam khí của làng nghề Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình được làng nghề đúc Ý Yên kết hợp sản xuất ra các sản phẫm mang bản sắc riêng của Ý Yên!

 

Từ những nhận thức trên chúng tôi nhận thấy :

- Làng nghề đúc Bằng Châu, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định tuy đã hình thành hơn 200 năm từ thời Tây Sơn đến nay, nhưng các sản phẫm đúc chỉ quanh quẩn các sản phẫm xoang nồi ( thời bao cấp), đèn, lư, đài, bát nhang...chỉ là sản phẫn đơn giản, hình thức không sáng tạo, đơn điệu. Tuy rằng sản lượng tương đối tiêu thụ khắp nơi nhưng giá thành thấp. Kéo theo thành quả lao động thấp, nghèo cứ hoàn nghèo dai dẳng!

- Chất lượng nói lên uy tín sản phẫm, nhưng do cạnh tranh lẫn nhau, và các ông chủ lớn không quan tâm đến chất lượng, o ép mua rẻ, vì thế chất lượng sản phẫn cần xem lại!

- Lớp già xuất thân từ làng nghề và nhờ làng nghề giàu có nhưng ít quan tâm đầu tư, du nhập cái mới để sản xuất ra sản phẫm mới! Cố thủ! 

- Lớp trẻ xuất thân từ làng nghề giàu từ làng nghề mà nên, nhưng vẫn kiến thức không mở, mà kín cổng cao tường chăm bẳm cái mình đã biết mà khom lưng làm gia công cho công ty xứ khác!

- Làng đời lâu đời nhưng chưa có thương hiệu, chưa có một sản phẫm giá trị đặc trưng của làng nghề, sản xuất thời vụ theo đặc hàng!

 -----------------------------------

 

------------ Các entry sau langhe sẽ nói về lể hội cúng tổ vào ngày 17/3/ âm lịch vào thứ bảy ngày 11/4/2009 tại làng nghề đúc đồng Bằng Châu, và sẽ giới thiệu nghề đúc đồng Bằng Châu, các sản phẫm. Mục đích đối chiếu, mà tìm hướng phát triển cho nghề đúc đồng Bằng Châu!-------

Cảm ơn các bạn đã quan tâm

_________________

 

 

 

 

LỄ HỘI LÀNG NGHỀ ĐÚC Ở Ý YÊN - NAM ĐỊNH

langhe | 08 April, 2009 05:00

LỄ HỘI LÀNG NGHỀ ĐÚC TRUYỀN THỐNG

LÀNG TỐNG XÁ

XÃ YÊN XÁ, HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

---------

Nhận lời mời của ông Bùi Văn Luyến giám đốc Công ty TNHH Minh Đạt, langhe cùng ông Nguyễn Đức Ngọc làng nghề Đúc kim loại Bằng Châu thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cùng tháp tùng xe của Cty Minh Đạt đi Nam Định để tham dự lễ hội giỗ tổ làng nghề truyền thống đúc Tống Xá, Yên Xá, Ý Yên, Nam Định.

Mục đích chuyến đi của chúng tôi là giao lưu làng nghề, và tìm hiểu nghề đúc đồng chạm khảm tam khí để mong du nhập phát triển làng nghề đúc đồng lâu năm ở quê hương chúng tôi!

Theo lời ông Nguyễn Đức Ngọc, gia phả cụ Tổ nhà ông thì quê hương ông ở Nam Định, vào Bình Định lập nghiệp lâu đời. Đến nay làng nghề đúc kim loại Bằng Châu, Đập Đá, An Nhơn, Bình Định đã tồn tại trên 200 năm. Hằng năm có ngày giỗ Tổ là ngày 17/3/âm lịch, thờ tổ sư nghề đúc là Không Lộ Thiền Sư. Cho nên ông rất hoan hỉ cho chuyến đi này, đó là chuyến đi về nguồn tìm về đất Tổ nghề!

------

Chuyến xe du hành bắt đầu từ Bình Định 8 giờ 30 sáng ngày 04/3 đến 4 giờ 30 sáng ngày 05/3/2009 chúng tôi đến làng Tống Xá, mưa lất phất lạnh trái ngược với nắng nóng ở Bình Định, không khí mừng đón lể hội làng nghề của Tống Xá làm chúng tôi hào hứng quên cái mệt mỏi và cái lạnh miền Bắc.

Cội nguồn của làng Tống Xá đã có 1218 năm tuổi, cội nguồn của nghề đúc truyền thống đã qua 891 năm. 

Theo "Tống Xá làng nghề đúc truyền thống, cội nguồn Xưa và Nay " của Tiến sĩ Dương Minh Đức người con của làng nghề Tống Xá thì:

KHÁI QUÁT CHUNG

Làng Tống Xá ra đời từ năm 791, nhưng nghề sống chính vẫn là nông nghiệp với cấy lúa trồng màu. Do dân số ngày một tăng, ruộng đất khai phá không được nhiều, địa hình canh tác không thuận lợi, ruộng chiêm trũng nhiều, nên năng suất rất thấp. Người dân lao động làm ăn quần quật quanh năm mà vẫn đói rách, nghèo khổ. Cuộc sống trên 300 năm chỉ với đồng ruộng, không có gì thay đổi.

Mãi đến năm 1118, sau 327 năm ra đời, dân làng nghề mới có thêm một nghề mới, đó là nghề đúc kim loại. Ngày tháng trôi qua, lúc đầu nghề mới còn lạc hậu, song rồi từng bước phát triển, nổi bật từ năm 1986 đã tăng tốc rất mạnh mẽ, như một bước ngoặc lớn về phát triển kinh tế của quê hương, chiếm tới 97% doanh thu của xã. Người đem nghề đúc kim loại này về cho dân làng Tống Xá, đó chính là một nhà sư - một vị Thánh - Nguyễn Minh Không.

ÔNG TỔ NGHỀ ĐÚC

 

 

 Ông tổ nghề đúc thờ ở đình Thánh Tổ của làng Tống Xá là Đức Thánh Không Lộ - Minh Không, tên thực là Nguyễn Chí Thành sinh năm 1076 ở làng Điểm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông là nhà sư nhiều tài năng ( Trong entry chùa Bái Đính sẽ nêu rõ tiểu sử nhà sư Minh Không, người sáng lập chùa Bái Đính cổ ).

 

 

Ngày 12 tháng 2 Âm lịch tương ứng với năm 1118, nhà sư Nguyễn Chí Thành ( 43 tuổi ) đã đến vãng cành chùa Tống Xá ở xứ đường Leo, trước cửa làng và ngụ cư tại chùa này. Trong thời gian ở chùa, Ông đã đi thăm các cánh đồng của làng, nhận thấy ở phía đông bắc làng có một khu ruộng khoảng vài ba mẫu có loại đất sét dùng được làm khuôn đúc. Ông đã cùng dân làng đào một hố sâu để lấy đất về làm khuôn và dạy cho làng Tống Xá nghề đúc, kéo bể thổi lò, chế tạo ra các dụng cụ bằng gang, đồng như cày bừa, nồi chậu để cung cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt gia đình. Cánh đồng lấy đất làm khuôn nói trên, từ ngày đó được gọi là canh đồng Cầu Hố.

Khi mọi người đã thạo nghề, sau 7 tháng, ngày 12 tháng 9 Ông ra đi. Những học trò đầu tiên đã tiếp thu được nghề đúc của Ông truyền lại là các ông ; Dương Công Lâm, Nguyễn Đức Thường, Trần Thế Tường, Diệp Xuân Tâm, Hồ Chí Hòa, Hoàng Đạo An, Đỗ Duy Phúc.

Sau này nghề đúc được mở mang, dân làng làm ăn phát đạt, đã dựng đền thờ Ông ở phía tây làng để truy tu công đức, lấy ngày Ông đến là 12 tháng 2 và ngày Ông đi là 12 tháng 9 âm lịch làm ngày giỗ hằng năm. Theo Thần phả đình thờ Ông được xây dựng ở phía đông đền thờ hai Ông Tổ dựng làng là ông Tống Phúc Thành và ông Dương Vạn Hợp ( không ghi rõ ngày tháng năm dựng đền). Đình quay hướng nam, phía tây và  phía bắc giáp các cánh đồng lúa, phía nam giáp sát với trục giao thông chính của làng, phía đông giáp lũy tre xanh của khu dân cư.

Bằng công nhận di tích đền thờ Đức Thánh Tổ

( Theo QĐ số 3211 do Thứ trưởng Lưu Trần Tiêu Bộ Văn hóa Thông tin ký ngày 12/12/1994)

------

Xin chép bài thơ của tác giả Dương Văn Tốn ở Cố Liêu về lễ hội:

 

QUÊ TA

Tháng hai lễ hội ở quê ta

Khách quí thập phương đến xã nhà

Dự hội làng nghề thay đổi mới

Xem nghề đúc thép rất tài ba

Hội mừng Cụ Tổ linh đình quá

Có tế, rước, chèo, hát, pháo hoa

Công đức ơn này, Tiên Tổ dựng

Đời đời con cháu hướng vinh hoa.

 

 

 

 --------

 

LỄ HỘI ĐƯỢC TỔ CHỨC NHƯ CHƯƠNG TRÌNH SAU

 

 

CÁC HÌNH ẢNH VỀ LỂ HỘI

 

Đoàn lể công làng nghề khởi hành đi rước lễ

 

Hai con rồng bằng xốp sẽ bay lên trời với chùm bong bóng

 

Đoàn Lân Sư Rồng rước lễ từ cuối làng trở về

 

Con rồng được kết bằng lá rất đẹp và sống động

 

Các cô ...công nhân  làng nghề xinh đẹp rước lễ

 

Đội rồng thật đẹp và thật dài đang múa trước cổng đến

 

Đội cờ rước lễ về đền

 

Lễ vật trang trọng rước nhập đền Thánh Tổ

 

KHAI MẠC LỄ HỘI

 

Khai mạc lễ hội chuẩn bị rất chu đáo

 

 Lễ múa trống đã được chuẩn bị khai mạc

 

Các vị trưởng lão trong làng được mời đông đủ

 

 Các văn nghệ sĩ cũng tham dự lễ khai mạc

 

Các quan khách xã, huyện, tỉnh và các làng nghề ...khác được trân trọng mời dự

 

 Các công nhân làng nghề, khối tế nam nữ, dân trong làng tham dự đầy đủ

 

Đặc biệt thế hệ trẻ được tham dự khối tế để học tập kế thừa

 

Chương trình khai mạc bắt đầu...tiếng trống đại dồn dập.

 

Các vũ công đoàn chèo Nam Định duyên dáng trong bài múa trống

 

Và múa quạt xoè.

 

Các diễn viên làng nghề tham dự một tiết múa

 

Nghệ sĩ sĩ chèo Bùi Văn Quyến của làng nghề đúc

trong vai Thành hoàng Tống Phúc Thành

 

Nghệ sĩ chèo Nguyễn Viết Thiện của làng nghề đúc

trong vai Thiền Sư Minh Không

 

LỄ TẾ THÁNH NGHỀ ĐÚC KIM LOẠI

 

 

Ban tế Nam và ban tế Nữ bắt đầu tế lễ

 

Ban tế Nam đang tế lễ

 

Lễ vật hoa và mâm ngũ quả cúng tế

 

Langhe cũng trân trọng thắp nhan cúng lễ

 

Các nghệ sĩ đoàn hát chèo Hà Nội hát văn hầu đồng

 

Nghệ sĩ chèo đoàn chèo Hà Nội duyên dáng múa hát chầu văn

 

Áo tứ thân xinh quá là xinh

 

Các nường hầu đang cùng nhau lễ cúng

 

Nghệ sĩ chèo ưu tú Thu Huyền đang hát Văn Hầu Đồng

 

Rất trang trọng trong lễ hầu

 

Hai bà cụ cao tuổi vui mừng cùng đi lễ

 

Tranh thủ chụp hình cùng cô nghệ sĩ ưu tú xinh đẹp  Thu Huyền

 

HÁT QUAN HỌ TRÊN HỒ TỐNG XÁ

 

Liền Anh, Liền Chị hát quan họ giao duyên

 

Người ơi! Hãy ở đừng về...

 

Người về...anh nhớ!...

 

Chàng ơi! Có nhớ....

 

Liền chị xinh ơi là xinh!

 

HÁT HỘI CHÈO

DO ĐOÀN CHÈO NAM ĐỊNH TRÌNH DIỄN

 

Đền thờ Thánh Tổ sáng rực đèn hoa trong đêm lễ hội

 

Cổng tam quan đề thờ Thánh Tổ trang trọng câu đèn chạy:

Kính chào quý khách về tham dự lễ hội

 

Hai bà cụ cao tuổi làng nghề tranh thủ chọn chổ ngồi xem chèo.

 

Đoàn chèo Nam Định diễn vỡ : Thần Đồng Đất Việt

 

Cô nghệ sĩ chèo Thanh Vân đóng vai Trạng Hiền gây ấn tượng rất hay!

 

Giả bộ chặt ngón chân nằm võng sướng ơi là...sương!

 

Các vai phụ múa rất đẹp!

Vỡ chèo làm cho dân làng đúc xem rất đông, vui

 

xxxxxxxxxxxxxx

 

CHÂN THÀNH CẢM ƠN!

 

Langhe xin chân thành cảm ơn:

- Ông Nguyễn văn Khanh : Chủ tịch hiệp hội đúc Ý Yên, trưởng ban lễ hội

- Ông Hà văn Ích : bí thư xã Yên Xá, phó ban lễ hội

- Vợ chồng ông : Nguyễn văn Từ & Nguyễn thị Kim: Công ty TNHH đúc Hải Yến

- Vợ chồng ông : Bùi Văn Tẹo & Võ thị Mai : Hội cao tuổi làng nghề đúc Tống Xá

- Vợ chồng anh : Bùi Văn Luyến & Nguyễn thị Oanh: Công ty TNHH đúc Minh Đạt, Qui Nhơn

- Nghệ sĩ Ưu tú : Thu Huyền

- Nghệ sĩ chèo: Bích Thục, Thanh Vân, Trần Hằng...

Đã tạo điều kiện cho chúng tôi tham quan lễ hội, tiếp đón, giao lưu, và giúp thăm làng nghề đúc gang - thép, đúc dồng. Đồng thời giúp chúng tôi thăm quan chùa Bái Đính, làng nghề Đồng Xâm ở Thái Bình...

Chúng tôi có sử dụng một số hình ảnh, tư liệu ...cá nhân và làng nghề, mong quí vị lượng thứ vì chúng tôi muốn entry này như là một kỷ niệm khó quên khi chúng tôi đã tham gia kỷ niệm 891 năm làng nghề đúc kim loại Tống Xá.

Chúng tôi mong sao cứ đến 3 năm một lần chúng tôi thăm quan lể hội để thấy rõ sự phát triển đời sống, kỷ thuật, kinh tế của làng nghề Tống Xá nói riêng và của huyện Ý Yên nói chung!

Nhất là 9 năm sau, vào năm 2018, kỷ niệm 900 năm làng nghề đúc Tống Xá, chúng tôi lại đến tham dự lể hội !

Chúng tôi kính chúc làng nghề Tống Xá, xã Yên Xá, thị trấn Lâm, huyện Ý Yên càng ngày càng đi lên giàu mạnh vì nghề truyền thống, trong đó nghề đúc kim loại là một trong những nghề chủ lực đem lại cơm no, áo ấm, giàu sang cho dân làng nghề, và nhân dân địa phương!

Trân Trọng

---------

 Xin giới thiệu vài hình ảnh giao lưu

 

Ông Nguyễn văn Ngọc, nghệ sĩ Thanh Vân, nghệ sĩ Trần Hằng,...,

ông Bùi văn Luyến giám đốc CTy TNHH đúc Minh Đạt, Quy Nhơn.

 

Langhe cụng ly giao lưu với 3 nghệ sĩ chèo duyên dáng của đoàn chèo Nam Định

 

Ông Nguyễn Đức Ngọc làng nghề đúc kim loại Bằng Châu, Đập Đá, An Nhơn, Bình Định

cụng ly giao luu với cô ca sĩ chèo duyên dáng xinh đẹp Thanh Vân

--------------- Xin xem tiếp entry sau về nghề đúc đồng Ý Yên, Nam Định -----------------

 

 

NGÀY HỘI NGỘ TẠI ĐÔNG HÀ - TÌNH VNWEBLOGS - THẤM ĐẬM TÌNH THÂN

langhe | 31 March, 2009 20:03

NGÀY HỘI NGỘ TẠI ĐÔNG HÀ

TÌNH VNWEBLOGS

THẤM ĐẬM TÌNH THÂN

 

27-28/3/2009

 

Hẹn mãi cùng các anh bloggers Quảng Trị từ những tháng cuối năm 2008, đến nay chúng tôi mới ra thăm các anh được!

Nhắc lại chuyện năm trước mà cảm ơn các anh, vì cái tình ban đầu gặp gỡ ấy đã kích thích tôi xây dựng nên trang nhật ký langhe này :

Ngày 9/10/2008 các anh Quảng Trị trên đường du Nam ghé thăm Bình Định, Minh Quang thường uống cafe sáng hai ngày cuối tuần với các bạn trong đó có tôi, Minh Quang tâm sự có các anh Quảng Trị đến thăm, tôi nghĩ nếu bạn đến thăm quê hương đó là một vinh dự lớn, nên tuy là một người không có blogs tôi vẫn cùng anh em tiếp các anh !

Lần đầu gặp các anh tôi tuy bỡ ngỡ do tôi không phài nhà văn, không phải nhà thơ, không viết blogs...nghĩa là không biết thế nào thế giới ảo! Nhưng cuộc gặp đã cho tôi nhiều ấn tượng về tình bạn, và nhất là theo dõi hành trình của các anh Đức Tiên-Phan văn Quang-Thanh Tịnh du Nam, cái tình các anh và các anh chi bloggers nơi các anh đến đối với nhau trong những buổi gặp gỡ làm cho tôi cảm động!

Tôi đã tập tành mở vnblogs từ ấy!

Và cũng từ vnweblogs tôi đã quen đã gặp Hà My. Mỹ Anh, Ái Liên, Nguyễn Thanh Xuân, Hoàng Tuấn, Lê Bá Duy, Mang Viên Long, Võ Ngọc Thọ, Mỹ Duyên, Hoahuyen, Hoacat, Tóc Nguyệt, Phương Phương, Nguyên Hùng, Khắc Dũng ....Cái tình chân thật đã kéo tôi vào vnblogs, tuy dù trong mạng ảo này đôi lúc rộ lên những phiền muộn mà nhiều lúc do cái tôi mà các bạn chưa kiềm chế được!

Trong thế giới ảo này tôi đã tìm thấy những bài viết rất hay, những câu thơ thắm đậm tình yêu tình người của các người đã nổi tiếng cũng như của các bạn trẻ mới viết, thật là một kiến thức rất quý mà tôi phải nghiền ngẫm đọc, nghiền ngẫm tiếp nhận để tạo cho tôi một cái vốn tập viết, tập thơ, và tập chụp hình...

Trang langhe này cũng được hoàn thiện dần do học hỏi các bạn  từ các bạn vnweblogs!

 

Trở lại chuyến thăm Quảng Trị-Huế tôi xin tường thuật:

Tôi đang công tác, không có thời gian nên phải chọn thời điễm phù hợp để đi, nhân dịp ở Đà Nẳng tồ chức thi bắn pháo hoa, bản tin Đô Thị 24h/7 có tổ chức hội chợ Festival làng nghề Việt, trong đó Bình Định có tham gia 3 gian hàng nghề truyền thống ( xem entry trước ), tôi có trách nhiệm phân công vận động tổ chức cho các làng nghề này tham gia, như thế là có dịp một việc đôi công, vừa thăm động viên dân làng nghề, vừa tranh thủ thăm các bạn, thời gian 2 ngày 3 đêm bố trí sao đây!?

Để kịp thời gian, tối ngày 26, lúc 21 giờ chúng tôi khởi hành, ban đầu các bạn hứa đi nhưng bận việc chỉ còn tôi và Minh Quang, sau nhờ anh Mang Viên Long tháp tùng lại được Phương giáo viên văn không có giờ lên lớp cùng đi, như thế là vui rồi, vì đi ít không chuyện trò ban đêm lái xe buồn lắm!

Đến gần 7giờ sáng ngày 28/3/2009 anh Đức Tiên, anh Phan Văn Quang, và cô giáp Moonqt điện liên tục dẫn đường, rất vui và ngỡ ngàng khi thấy anh Đức Tiên đứng góc đường Lê Quý Đôn và Quốc lộ 1A tay lăm lăm điện thoại chỉ đường:

 

Mong mỏi từ xa nhộn nhịp tấm lòng

Các tin nhắn dò chừng mỗi giờ đi

Niềm vui ấy rút ngắn trăm dặm đường

Thức trắng đêm mà mặt vẫn rạng tươi!

 

Anh đứng đón nơi trung tâm Đông Hà

Tay lăm lăm máy di động dẫn đường

Sao thân thiết như lâu ngày mới gặp

Nghèn nghẹn lòng vui đặc sản xôi gà

 

Biết chúng tôi đói sau một đêm dài hành trình, anh Đức Tiên, anh Phan Văn Quang, Thanh Tịnh đãi chúng tôi món đặc sản xôi gà, món này nó khác với món xôi gà tôi đã dùng những địa phương khác :

 

 

Sau khi được đãi món đặc sản rất ngon và no, các anh mời chúng tôi uống cafe tại Giang Châu quán, một nơi hữu tình đầy cảm hứng để cho các nhà thơ, nhà văn, nhà báo Đông Hà thường ngồi uống!

 

Tiếp chúng tôi cafe còn có thi sĩ Hoài Nhạn, thật là ấm cúng:

Thời gian chúng tôi thăm Quảng Trị ngắn, nên anh Đúc Tiên bố trí buổi sáng anh và anh Phan Văn Quang hướng dẫn chúng tôi viếnng Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn và Cầu Hiền Lương, chiều Thanh Tịnh hướng dẫn chúng tôi viếng Thành Cổ Quảng Trị và nhà tưởng niệm cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn

 

 

Anh Mang Viên Long đánh chuông cầu nguyện

 

 

 

 

 

 

 

Buổi tối lúc 17 giờ các anh tiếp chúng tôi tại quán Đồng Soi:

Tiệc hội ngộ quán Đồng Soi lộng mát

Quảng Trị, Quảng Bình nối tình Bình Định

Chắc chắc, nem chua chợ Huyện, bánh ít lá gai

Vị nồng Bàu Đá, đặc sản quê thấm đậm tình!

 

 

Đến 18 giờ 20 Nguyễn Quang Vinh được tin báo anh em Bình Định ra Đông Hà đã cùng Phan Phương lội trời mưa từ Đồng Hới vào!:

Thật ngỡ ngàng Nguyễn Quang Vinh có mặt

Vượt trời mưa trăm cây số vẫn vào

Phan Phương nhà báo trẻ, đồng bào Rục!

Tim rộn ràng thắm đậm bao tình thân!

 

 

 

 

Thật là một buổi gặp mặt chân thành rầt vui, tâm tình nhau những cái hay trên vnweblogs. Cái tình, cái chân thật, cái tôn trọng nhau đã tạo nên cái ấm cúng của buổi gặp mặt này. Cảm ơn sự có mặt của Bọ Vinh làm cho không khí vui càng vui!

 

Sáng hôm sau, đúng hẹn chúng tôi cùng nhau uống cafe tạm biệt tại Giang Châu quán, cùng nhau chung vui và chia tay

 

Giang Châu quán cafe đen đượm ngọt

Ngọt tình thơ, ngọt tình bạn, tình văn

Không dỗi hờn, không cái tôi cao ngạo

Góp ý thơ  cùng nâng cánh diều bay

 

Chúng tôi chia tay mà thấm đậm tình bạn vnblogs:

 

 

Chào Võ Văn Luyến, Xuân Lợi. anh Phan Văn Quang, Thanh Tịnh, anh Đức Tiên, Hằng Nga ( cô giáo Moonqt)...

và Hoài Nhạn, Nguyễn Quang Vinh, Phan Phương nhé!

Hẹn gặp nhau !

 

Tình blogs tình người cùng nâng cánh

Phút chia tay xao xuyến tuyệt vời

 

_________________________

 

 

 

 

 

 

CẢM NGHĨ VỀ HỘI CHỢ FESTIVAL LÀNG NGHỀ VIỆT 2009 TẠI ĐÀ NẲNG

langhe | 30 March, 2009 20:01

HỘI CHỢ FESTIVAL LÀNG NGHỀ VIỆT 2009

CẢM NGHĨ VỀ HỘI CHỢ

 

LANGHE THĂM QUAN HỘI CHỢ CÓ GHI CÁC ẢNH

VỀ CÁC GIAN HÀNG SAU

1- GIAN HÀNG CỦA LÀNG NGHỀ BÌNH ĐINH :

 

 

 

 

 

 

CÁC SẢN PHẪM MANG ĐI TRÌNH DIỄN HỘI CHỢ NHƯ SAU

 

NÓN LÁ GÒ GĂNG

 

 RƯỢU BÀU ĐÁ, BÚN SONG THẰN

 

NEM CHỢ HUYỆN

 

2- GIAN HÀNG CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG KHÁC THAM GIA :

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHÌN TỔNG QUAN CÁC GIAN HÀNG ĐƠN ĐIỆU, VẮNG KHÁCH

TIẾP THỊ QUẢNG BÁ KHÔNG CÓ

LÀNG NGHỀ THAM GIA NHƯNG CHƯA THỂ HIỆN HẾT...CÁI NGHỀ!

 

3- GẶP TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC HỘI CHỢ:

NHÀ BÁO NGUYỄN CỬU LOAN

 

 

 

 

 

Qua trao đổi với Nhà báo Nguyễn Cửu Loan

chủ biên bản tin Đô Thị 24h/7

cơ quan của Hội Xây Dựng Thành Phố Đà Nẳng.

Lần đầu tiên tổ chức hội chợ Festival làng nghề Việt 2009. 

 

Hội chợ Festival làng nghề Việt 2009

có những nhận xét sau

- Được chuẩn bị thời gian thời gian ngắn, không ký được trực tiếp hợp đồng với các làng nghề, chỉ qua các Sở Công Thương nên chưa nắm chắc số lượng làng nghề tham gia, vì thế bị động cho đến ngày khai mạc 25/3 lai rai còn có làng nghề đến sau!

-Thời điểm tổ chức hội chợ lại là thời điểm tổ chức : khai trương cáp treo Bà Nà, lể hội ẩm thực, lể hội hoa đăng, lể hội thi bắn pháo hoa...trong khi hội chợ lại tổ chức tại công viên 29/3 nên khách phân tán, lượng khách tham quan quá ít so với dự kiến!

- Đây là lần đầu tiên tổ chức hội chợ Làng nghề Việt nên chưa có kinh nghiệm!

 

NHẬN XÉT CỦA DÂN LÀNG NGHỀ THAM GIA HỘI CHỢ:

- Ban tổ chức chưa chuyên nghiệp.

- Làng nghề còn nghèo chưa đủ sức tự tham gia, vì thế các đơn vị tổ chức cần có kinh phí tài trợ cụ thể.

- Nên bán vé thăm quan hội chợ trong giờ cao điểm buổi tối vì có ca nhạc, ban ngày không nên bán vé vì hạn chế số lượng lớn khách vào xem và mua hàng 

- Các làng nghề tham gia quá ít so với số lượng làng nghề cả nước!

- Có làng nghề tham gia có để tham gia, chưa tích cực trưng bày biểu diễn nghề! (xem hình)

 

--------------------

 

Vài hình ảnh và vài ý kiến,

mong quí vị xem góp ý

để các hội chợ làng nghề sau này tổ chức đạt hơn!

Trân Trọng cảm ơn đã xem

-------------------

 

 

 

 

LÀNG NGHỀ BÌNH ĐỊNH THAM GIA HỘI CHỢ FESTIVAL LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VIỆT TẠI ĐÀ NẲNG từ 25/3 đến 29/3/2009

langhe | 24 March, 2009 19:41

LÀNG NGHỀ TỈNH BÌNH ĐỊNH
THAM GIA HỘI CHỢ FESTIVAL
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VIỆT
TẠI ĐÀ NẲNG
 
Từ ngày 25/3/2009 đến 29/3/2009
 
 
Nhân hội thi bắn pháo hoa quốc tế tại Đà Nẳng trong 2 đêm 27/3 và 28/3/2009, tại Đà Nẳng tổ chức hội chợ Festival làng nghề truyền thống Việt thời gian 5 ngày từ 25/3 đến hết ngày 29/3/2009. Được Sở Công Thương Bình Định chỉ đạo tổ chức cho các làng nghề truyền thống tỉnh Bình Định tham gia hội chợ. Các làng nghề truyền thống được vận động tham gia như sau:
 
- Làng nghề truyền thống nón lá Gò Găng, xã Nhơn Thành, Huyện An Nhơn;
 
- Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá, thôn Đông Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn;
 
- Nghề truyền thống sản xuất Bún Song Thằn, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn;
 
- Nghề truyền thống nem Chợ Huyện, cơ sở Bảy Nem, thị trấn Tuy Phước, huyện Tuy Phước;
 
 
Bốn nghề truyền thống trên được ban tổ chức bố trí trong 3 gian hàng tiêu chuẩn, mỗi gian kích thước  3mx3m, ngoài bún Song Thằn do qui trình công nghệ sản xuất phức tạp nên chỉ trương bày bán giới thiệu sản phẫm, còn ba nghề truyền thống nón lá Gò Găng, Rượu Bàu Đá, nem chợ Huyện được các dân làng nghề trình diễn sản xuất tại chổ, vì thế sản phẫm chính hiệu chất lượng do chính tay nghề truyền thống của dân làng nghề sản xuất tại chổ để quí khách xem.
 
Dân làng nghề chân chất, có cái tâm bảo vệ chất lượng sản phẫm, bảo vệ cái nghề mà cha ông truyền dạy gây dựng nên thương hiệu làng nghề truyền thống. Nhưng vì cái vốn tiền bạc ít ỏi mà bao bì đơn sơ, tiếp thị hạn chế, từ chân ruộng đồng mà gắng gượng tập tành làm thương nghiệp vì thế chắc chắn không dẻo mà tiếp thị chào mời! Nhưng cái tâm của họ đã chất chứa trong cái chất lư